Trong hoạt động quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội, chế độ báo cáo của cơ quan bảo hiểm xã hội giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin, số liệu phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành và hoạch định chính sách an sinh xã hội. Thông qua việc thực hiện chế độ báo cáo đầy đủ, kịp thời và chính xác, cơ quan bảo hiểm xã hội góp phần bảo đảm tính minh bạch trong quản lý quỹ, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp.

1. Chế độ với người lao động không đủ điều kiện hưởng lương hưu và chưa đủ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội 

Trong hệ thống bảo hiểm xã hội, không phải mọi người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu đều đủ điều kiện để hưởng lương hưu hoặc trợ cấp hưu trí xã hội. Để bảo đảm quyền lợi và ổn định đời sống cho nhóm đối tượng này, Điều 23 Luật bảo hiểm xã hội 2024 quy định một chế độ trợ cấp riêng đối với người lao động đủ tuổi nghỉ hưu, có thời gian đóng bảo hiểm xã hội nhưng chưa đáp ứng điều kiện hưởng lương hưu và cũng chưa đủ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội. Quy định này thể hiện tính nhân văn và linh hoạt của chính sách bảo hiểm xã hội, nhằm bảo đảm an sinh cho người lao động trong giai đoạn chuyển tiếp. Cụ thể:

1.1. Trường hợp người lao động đủ tuổi nghỉ hưu, có thời gian đóng bảo hiểm xã hội nhưng không đủ điều kiện hưởng lương hưu và chưa đủ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội

Theo khoản 1 điều 23 và điều 21 Luật bảo hiểm xã hội 2024 quy định như sau: 

1. Công dân Việt Nam đủ tuổi nghỉ hưu có thời gian đóng bảo hiểm xã hội nhưng không đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật và chưa đủ điều kiện hưởng trợ cấp hưu trí xã hội theo quy định tại Điều 21 của Luật này, nếu không hưởng bảo hiểm xã hội một lần và không bảo lưu mà có yêu cầu thì được hưởng trợ cấp hằng tháng từ chính khoản đóng của mình theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Điều 21. Đối tượng và điều kiện hưởng trợ cấp hưu trí xã hội

1. Công dân Việt Nam được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Từ đủ 75 tuổi trở lên;

b) Không hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, trừ trường hợp khác theo quy định của Chính phủ;

c) Có văn bản đề nghị hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.

2. Công dân Việt Nam từ đủ 70 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo và đáp ứng đủ điều kiện quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này thì được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.

3. Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh giảm dần độ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội trên cơ sở đề nghị của Chính phủ phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và khả năng của ngân sách nhà nước từng thời kỳ.

4. Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 Điều này.

Theo quy định, đối tượng áp dụng là công dân Việt Nam đã đủ tuổi nghỉ hưu, có tham gia đóng bảo hiểm xã hội nhưng chưa đủ số năm đóng để hưởng lương hưu theo quy định. Đồng thời, những người này cũng chưa đủ điều kiện hưởng trợ cấp hưu trí xã hội, vốn chỉ được áp dụng đối với người từ đủ 75 tuổi trở lên hoặc từ đủ 70 tuổi đến dưới 75 tuổi trong trường hợp thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo và không hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng.

Đối với nhóm đối tượng nêu trên, nếu người lao động không lựa chọn hưởng bảo hiểm xã hội một lần, không bảo lưu thời gian đã đóng và có yêu cầu, thì được hưởng trợ cấp hằng tháng từ chính khoản tiền đã đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. Quy định này cho phép người lao động tiếp tục được bảo đảm thu nhập trong giai đoạn chuyển tiếp từ khi đủ tuổi nghỉ hưu đến khi đủ điều kiện hưởng trợ cấp hưu trí xã hội, thay vì phải rút toàn bộ số tiền đã đóng trong một lần.

Có thể thấy, chế độ trợ cấp hằng tháng này được xây dựng trên cơ sở sử dụng nguồn đóng góp của người lao động để bảo đảm an sinh cho chính họ, qua đó thể hiện tính nhân văn và linh hoạt của chính sách bảo hiểm xã hội, đồng thời góp phần hạn chế tình trạng hưởng bảo hiểm xã hội một lần và tăng cường tính bền vững của hệ thống an sinh xã hội.

1.2. Nguyên tắc xác định thời gian và mức hưởng trợ cấp hằng tháng 

Khoản 2 điều 23 Luật bảo hiểm xã hội 2024 quy định về thời gian hưởng và mức hưởng trợ cấp hằng tháng được xây dựng trên nguyên tắc căn cứ vào thời gian đóng và căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của người lao động. Điều này thể hiện rõ bản chất của chế độ trợ cấp hằng tháng trong trường hợp người lao động không đủ điều kiện hưởng lương hưu, đó không phải là khoản trợ cấp mang tính hỗ trợ xã hội thuần túy mà là sự tiếp nối của cơ chế bảo hiểm xã hội dựa trên đóng góp thực tế của người lao động.

Thời gian hưởng trợ cấp hằng tháng được xác định tương ứng với khoảng thời gian mà người lao động cần được bảo đảm thu nhập, bắt đầu từ khi đủ tuổi nghỉ hưu cho đến khi đủ điều kiện hưởng trợ cấp hưu trí xã hội theo quy định. Việc xác định thời gian hưởng trên cơ sở này nhằm bảo đảm tính liên tục của an sinh xã hội, tránh tình trạng người lao động bị gián đoạn nguồn thu nhập trong giai đoạn tuổi cao, sức lao động suy giảm.

Bên cạnh đó, mức hưởng trợ cấp hằng tháng được tính toán dựa trên tổng thời gian đã tham gia bảo hiểm xã hội và mức tiền làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của người lao động trong suốt quá trình làm việc. Cách xác định này phản ánh nguyên tắc đóng – hưởng, bảo đảm sự công bằng giữa những người lao động có thời gian đóng và mức đóng khác nhau. Người có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội dài hơn, mức đóng cao hơn sẽ có mức trợ cấp tương xứng, qua đó khuyến khích người lao động tham gia bảo hiểm xã hội đầy đủ và lâu dài.

Có thể thấy, quy định này không chỉ bảo đảm quyền lợi của người lao động trong giai đoạn chuyển tiếp khi chưa đủ điều kiện hưởng các chế độ hưu trí, mà còn góp phần củng cố tính bền vững của hệ thống bảo hiểm xã hội thông qua việc gắn chặt quyền lợi hưởng với nghĩa vụ đóng của người tham gia.

1.3. Mức trợ cấp hằng tháng tối thiểu 

Theo khoản 3 điều 23 và khoản 1 điều 22 Luật bảo hiểm xã hội 2024 quy định như sau: 

3. Mức trợ cấp hằng tháng thấp nhất bằng mức trợ cấp hưu trí xã hội hằng tháng quy định tại khoản 1 Điều 22 của Luật này.

Điều 22. Các chế độ, trình tự, thủ tục thực hiện trợ cấp hưu trí xã hội

1. Mức trợ cấp hưu trí xã hội hằng tháng do Chính phủ quy định phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và khả năng của ngân sách nhà nước từng thời kỳ. Định kỳ 03 năm, Chính phủ thực hiện rà soát, xem xét việc điều chỉnh mức trợ cấp hưu trí xã hội.

Tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội, khả năng cân đối ngân sách, huy động các nguồn lực xã hội, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định hỗ trợ thêm cho người hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.

Quy định về mức trợ cấp hằng tháng được xây dựng trên cơ sở bảo đảm mức sống tối thiểu cho người lao động trong giai đoạn chưa đủ điều kiện hưởng các chế độ hưu trí. Theo đó, mức trợ cấp hằng tháng thấp nhất mà người lao động được hưởng không được thấp hơn mức trợ cấp hưu trí xã hội hằng tháng. Việc xác lập mức sàn này nhằm bảo đảm rằng người lao động đã tham gia bảo hiểm xã hội không bị hưởng mức trợ cấp thấp hơn người chỉ hưởng trợ cấp xã hội từ ngân sách nhà nước, qua đó thể hiện tính công bằng và khuyến khích tham gia bảo hiểm xã hội.

Bên cạnh việc bảo đảm mức tối thiểu, pháp luật còn ghi nhận nguyên tắc đóng – hưởng trong việc xác định mức trợ cấp cụ thể. Trường hợp tổng số tiền tính theo thời gian đóng và căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của người lao động cao hơn số tiền tương ứng với mức trợ cấp hưu trí xã hội trong khoảng thời gian từ khi đủ tuổi nghỉ hưu đến khi đủ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội, thì người lao động được hưởng mức trợ cấp hằng tháng cao hơn. Quy định này bảo đảm quyền lợi tương xứng cho người lao động có quá trình đóng bảo hiểm xã hội dài hơn hoặc mức đóng cao hơn, tránh việc cào bằng mức hưởng giữa các đối tượng.

Trong trường hợp tổng số tiền tính theo thời gian đóng và căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của người lao động không đủ để chi trả trợ cấp hằng tháng cho đến khi người lao động đủ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội, pháp luật cho phép người lao động, nếu có nguyện vọng, được đóng một lần cho phần còn thiếu. Cơ chế này tạo điều kiện để người lao động chủ động hoàn thiện quyền lợi của mình, bảo đảm việc hưởng trợ cấp hằng tháng không bị gián đoạn trong suốt giai đoạn chuyển tiếp, đồng thời duy trì các quyền lợi an sinh liên quan.

Theo khoản 4 Luật bảo hiểm xã hội 2024, mức trợ cấp hằng tháng được điều chỉnh theo cùng nguyên tắc với việc điều chỉnh lương hưu, căn cứ vào mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng và phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước cũng như quỹ bảo hiểm xã hội.

Việc áp dụng cơ chế điều chỉnh này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với những người đang hưởng trợ cấp hằng tháng, bởi đây là nhóm đối tượng có thu nhập ổn định nhưng thường ở mức thấp và ít có khả năng bù đắp khi giá cả sinh hoạt tăng cao. Thông qua việc điều chỉnh, giá trị thực của khoản trợ cấp được bảo đảm, góp phần duy trì mức sống tối thiểu và ổn định đời sống của người hưởng trong dài hạn.

Bên cạnh đó, quy định về điều chỉnh còn hướng đến mục tiêu bảo đảm công bằng xã hội khi ưu tiên điều chỉnh thỏa đáng đối với những đối tượng có mức hưởng thấp, qua đó từng bước thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức hưởng giữa các nhóm người hưởng ở những thời kỳ khác nhau. Việc giao Chính phủ quy định cụ thể về thời điểm, đối tượng và mức điều chỉnh giúp chính sách được triển khai linh hoạt, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội và khả năng cân đối của ngân sách trong từng giai đoạn

Ngoài ra, mức trợ cấp hằng tháng còn được áp dụng cơ chế điều chỉnh định kỳ tương tự như đối với lương hưu, căn cứ vào chỉ số giá tiêu dùng và khả năng của quỹ bảo hiểm xã hội. Việc điều chỉnh này nhằm bảo đảm giá trị thực của khoản trợ cấp trước những biến động của nền kinh tế, góp phần ổn định đời sống của người lao động khi tuổi cao, sức khỏe và khả năng lao động đã suy giảm.

1.4. Trường hợp người đang hưởng trợ cấp hằng tháng chết 

Căn cứ khoản 5 Điều 23 và điểm a khoản 1 Điều 85 hoặc điểm a khoản 1 Điều 109 Luật bảo hiểm xã hội 2024 quy định như sau: 

5. Trường hợp người đang hưởng trợ cấp hằng tháng chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp một lần cho những tháng chưa nhận và được hưởng một lần trợ cấp mai táng nếu đủ điều kiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều 85 hoặc điểm a khoản 1 Điều 109 của Luật này.

Điều 85. Trợ cấp mai táng

1. Người sau đây khi chết thì tổ chức, cá nhân lo mai táng được nhận một lần trợ cấp mai táng:

a) Đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 2 của Luật này có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 12 tháng trở lên;
...
Điều 109. Trợ cấp mai táng

1. Những người sau đây khi chết thì tổ chức, cá nhân lo mai táng được nhận một lần trợ cấp mai táng:

a) Người có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 60 tháng trở lên;

Quy định về chế độ đối với thân nhân trong trường hợp người đang hưởng trợ cấp hằng tháng chết nhằm bảo đảm tính liên tục và nhân văn của chính sách bảo hiểm xã hội. Theo đó, khi người đang hưởng trợ cấp hằng tháng qua đời, thân nhân của họ được nhận trợ cấp một lần tương ứng với số tháng trợ cấp mà người hưởng chưa kịp nhận. Quy định này nhằm bảo đảm quyền lợi phát sinh từ quá trình hưởng trợ cấp của người lao động không bị mất đi do sự kiện chết, đồng thời tránh thiệt thòi cho gia đình người hưởng.

Bên cạnh khoản trợ cấp cho những tháng chưa nhận, thân nhân còn được hưởng trợ cấp mai táng trong trường hợp đáp ứng đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định. Trợ cấp mai táng là khoản hỗ trợ tài chính quan trọng, góp phần chia sẻ khó khăn với gia đình trong việc tổ chức mai táng cho người đã mất, đặc biệt đối với những hộ gia đình có hoàn cảnh kinh tế hạn chế.

Có thể thấy, quy định này không chỉ bảo vệ quyền lợi của người lao động ngay cả khi họ đã qua đời mà còn mở rộng sự bảo đảm an sinh xã hội đối với thân nhân của họ. Qua đó, chính sách bảo hiểm xã hội thể hiện rõ tính nhân đạo và mục tiêu hỗ trợ toàn diện, hướng tới việc giảm bớt gánh nặng tài chính cho gia đình người lao động trong những thời điểm khó khăn nhất.

1.5. Quyền lợi bảo hiểm y tế trong thời gian hưởng trợ cấp

Theo khoản 6 điều 23 Luật bảo hiểm xã hội 2024 thì trong suốt thời gian hưởng trợ cấp hằng tháng, người lao động không phải tự đóng bảo hiểm y tế mà được Nhà nước bảo đảm quyền tham gia và thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe theo quy định.

Việc ngân sách nhà nước đóng bảo hiểm y tế cho nhóm đối tượng này xuất phát từ đặc thù của họ là những người đã đến tuổi nghỉ hưu, khả năng lao động và tạo thu nhập hạn chế, trong khi nhu cầu khám chữa bệnh lại ngày càng gia tăng. Quy định này giúp người hưởng trợ cấp có điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế kịp thời, giảm bớt gánh nặng chi phí khám chữa bệnh, từ đó góp phần ổn định đời sống khi tuổi cao, sức khỏe suy giảm.

Có thể thấy, bên cạnh việc bảo đảm thu nhập thông qua trợ cấp hằng tháng, việc bảo đảm quyền lợi về bảo hiểm y tế đã hoàn thiện chính sách an sinh xã hội theo hướng kết hợp giữa hỗ trợ tài chính và chăm sóc sức khỏe. Quy định này thể hiện rõ tính nhân văn của pháp luật, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo vệ quyền lợi cơ bản của người lao động trong giai đoạn cuối của cuộc đời.

2. Trình tự, thủ tục thực hiện chế độ đối với người lao động không đủ điều kiện hưởng lương hưu và chưa đủ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội

Theo điều 24 Luật bảo hiểm xã hội 2024 thì Trình tự, thủ tục thực hiện chế độ đối với người lao động không đủ điều kiện hưởng lương hưu và chưa đủ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội được thực hiện theo các bước sau:

Bước 1: Chuẩn bị và nộp hồ sơ đề nghị hưởng chế độ

Người lao động thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật này có trách nhiệm gửi hồ sơ đến cơ quan bảo hiểm xã hội. Hồ sơ bao gồm:

- Sổ bảo hiểm xã hội;

- Văn bản đề nghị hưởng trợ cấp hằng tháng.

Việc quy định hồ sơ đơn giản nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động trong quá trình thực hiện quyền hưởng chế độ.

Bước 2: Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ của cơ quan bảo hiểm xã hội

Sau khi tiếp nhận hồ sơ do người lao động gửi đến, cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm kiểm tra tính đầy đủ và hợp lệ của hồ sơ. Nội dung kiểm tra tập trung vào việc đối chiếu thông tin trong sổ bảo hiểm xã hội, xác định thời gian đóng, căn cứ đóng bảo hiểm xã hội, cũng như việc người lao động có thuộc đúng đối tượng áp dụng chế độ hay không. Đây là bước có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo đảm việc giải quyết chế độ được thực hiện đúng đối tượng, đúng điều kiện, hạn chế sai sót, đồng thời bảo đảm tính an toàn và bền vững của quỹ bảo hiểm xã hội.

Bước 3: Xem xét điều kiện hưởng và xác định mức trợ cấp hằng tháng

Trên cơ sở hồ sơ hợp lệ, cơ quan bảo hiểm xã hội tiến hành xem xét các điều kiện hưởng theo quy định của pháp luật, đồng thời xác định thời gian hưởng và mức trợ cấp hằng tháng cho người lao động. Việc xác định mức hưởng phải căn cứ vào thời gian đóng và căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của người lao động, bảo đảm nguyên tắc đóng – hưởng và sự công bằng giữa những người tham gia bảo hiểm. Quá trình này đòi hỏi sự chính xác, khách quan và tuân thủ nghiêm các quy định pháp luật, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.

Bước 4: Giải quyết hồ sơ và thông báo kết quả

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm hoàn tất việc giải quyết và thực hiện chi trả trợ cấp hằng tháng cho người lao động. Trường hợp không giải quyết do không đủ điều kiện, cơ quan bảo hiểm xã hội phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do. Quy định này nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước, đồng thời giúp người lao động hiểu rõ nguyên nhân, từ đó có cơ sở thực hiện các quyền tiếp theo theo quy định của pháp luật.

3. Các hành vi bị nghiêm cấm trong bảo hiểm xã hội 

Theo điều 9 Luật bảo hiểm xã hội năm 2024, Để các chính sách này được thực hiện đúng mục tiêu, công bằng và hiệu quả, pháp luật đã quy định cụ thể các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp. Việc xác định rõ những hành vi bị cấm không chỉ nhằm phòng ngừa, ngăn chặn các vi phạm mà còn góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia và thụ hưởng, đồng thời bảo đảm sự an toàn, bền vững của các quỹ bảo hiểm. Cụ thể các hành vi bị nghiêm cấm bao gồm: 

- Chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp

- Chiếm dụng tiền hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp

- Cản trở, gây khó khăn hoặc làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đối tượng tham gia, thụ hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp

- Gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp

- Sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm thất nghiệp trái pháp luật

- Truy cập, khai thác, cung cấp cơ sở dữ liệu về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp trái pháp luật

- Đăng ký, báo cáo sai sự thật; cung cấp thông tin không chính xác về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp

- Thông đồng, móc nối, bao che, giúp sức cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp

- Cầm cố, mua bán, thế chấp, đặt cọc sổ bảo hiểm xã hội dưới mọi hình thức

- Hành vi khác theo quy định của luật

Như vậy, các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp được quy định một cách toàn diện, bao quát từ nghĩa vụ đóng, quản lý quỹ, sử dụng dữ liệu đến việc bảo vệ quyền lợi của người tham gia. Việc tuân thủ nghiêm các quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ vững kỷ cương pháp luật, ngăn ngừa gian lận, lạm dụng và thất thoát quỹ bảo hiểm. Qua đó, hệ thống bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp mới có thể vận hành ổn định, minh bạch, bảo đảm quyền lợi chính đáng của người lao động, củng cố niềm tin của xã hội và góp phần thực hiện hiệu quả mục tiêu an sinh xã hội của Nhà nước. 

Kết luận

Có thể khẳng định rằng, việc quy định các chế độ và thủ tục hưởng chế độ đối với người lao động không đủ điều kiện hưởng lương hưu và chưa đủ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội là một giải pháp cần thiết và nhân văn trong hệ thống bảo hiểm xã hội. Những quy định này góp phần bảo đảm quyền lợi cho người lao động trong giai đoạn không còn tham gia quan hệ lao động nhưng chưa đủ điều kiện để hưởng các chính sách an sinh dài hạn, qua đó hạn chế các rủi ro về thu nhập và đời sống.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp.