1. Giá tính thuế giá trị gia tăng

Giá chưa có thuế là giá cả chưa bao gồm chính phần thuế cụ thê đó. Giá đã có thuế là giá bao gồm cả phần thuế được tính cho quan hệ thuế cụ thể đó. Do ưu điểm của phương án xác định thuế trên cơ sở giá chưa có thuế, pháp luật thuế giá trị gia tăng Việt Nam quy định giá tính thuế giá trị gia tăng là giá chưa có thuế giá trị gia tăng;w đồng thời quy định chi tiết giá tính thuế đối với các hoạt động kinh doanh phổ biến và một số hoạt động kinh doanh đặc thù.

Đối với hoạt động kinh doanh phổ biến, giá tính thuế hàng hoá dịch vụ chịu thuế là giá chưa có thuế giá trị gia tăng đối với hàng hoá dịch vụ đó. Trường hợp, hàng hoá dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, giá tính thuế giá trị gia tăng là giá đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng; đối với hàng hoá chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường thì giá tính thuế là giá đã có thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng (Xem: Điều 7 Luật thuế giá ữị gia tăng năm 2008; khoàn 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bồ sung một số điều cùa Luật thuế giá trị gia tăng năm 2013 và Điều 4 Nghị định của Chính phủ số 123/2008/NĐ-CP ngày 8/12/2008 - Trước ngày 01/01/2004, hàng hoá dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, không nằm trong diện chịu thuế giá ưị gia tăng (ở chính khâu phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt). Quy định này không tạo ra tác động thực sự về giá đối với người tiêu dùng. Quy định này cũng dẫn đến những khó khăn cho cơ quan quàn lí thuế khi xác định số thuế phải nộp; cho đối tượng nộp thuế tiêu thụ đặc biệt khi có những yếu tố đầu vào đã nộp thuế giá trị gia tăng nhưng không được khấu trừ).

Do kết quả hoạt động kinh doanh của chủ thể nộp thuế thường được phản ánh qua hệ thống chứng từ hoấ đơn thuế giá trị gia tăng nên việc xác định giá tính thuế đơn giản. Trường hợp, chủ thể nộp thuế cung ứng hàng hoá dịch vụ mà không tách bạch được giữa giá đã có thuế và giá chưa có thuế, pháp luật cho phép chủ thể nộp thuế được xác định giá chưa có thuế tính trên cơ sở giá thanh toán (Điểm k Điều 7 Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008 quy định vấn đề này).

Đối với hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu, giá tính thuế là giá nhập khẩu và các loại thuế áp dụng đổi với hàng hoá dịch vụ nhập khẩu nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng (thuế nhập khẩu kể cả các khoản phụ thu áp dụng đối với hàng hoá dịch vụ nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt ở khâu nhập khẩu, thuế bảo vệ môi trường).

Đối vói hoạt động cung cấp hàng hoá, dịch vụ dưới dạng đặc thù như cho thuê tài sản, gia công hàng hoá, xây dựng... tuỳ theo từng trường hợp, pháp luật quy định chi tiết về giá tính thuế giá trị gia tăng.

2. Thuế suất tính thuế giá trị gia tăng

Khi ban hành một đạo luật thuế, việc lựa chọn hệ thống thuế suất có ý nghĩa rất quan trọng. Khi ban hành Luật thuế giá trị gia tăng, các nước đang áp dụng loại thuế này thường lựa chọn: thực hiện chế độ nhiều mức thuế suất hoặc chế độ một thuế suất (không tính tới mức thuế suất 0% áp dụng đối vói hàng xuất khẩu). Mỗi sự lựa chọn đều có tính hai mặt.

Cho dù có sự lựa chọn khác nhau nhưng khi ban hành thuế suất thuế giá trị gia tăng thường dựa trên những tiêu chí cơ bản.

Thứ nhất, mức thuế suất được ban hành phải tạo nguồn thu ổn định và chiếm tỉ trọng mong muốn trong tổng thu ngân sách nhà nước (Từ năm 1999 đến nay, tổng thu thuế giá ttị gia tăng thường chiếm 30% tổng thu từ thuế, đáp ứng đúng yếu cầu đặt ra cho loại thuế này).

Thứ hai là loại thuế tiêu dùng, mức thuế suất phải có khả năng định hướng tiêu dùng trong dân cư. Thứ ba, thông qua mức thuế suất áp dụng cho các loại hàng hoá dịch vụ chịu thuế, Nhà nước thực hiện một số chính sách khuyến khích, thay đổi cơ cấu đầu tư trong nền kinh tế. Việt Nam cũng không nằm ngoài những yêu cầu chung đó.

Năm 1998, Luật thuế giá trị gia tăng ban hành, quy định 4 mức thuế suất khác nhau (0%, 5%, 10%, 20%). So sánh với Luật thuế doanh thu có hiệu lực áp dụng từ năm 1990 đến 1998, thuế suất thuế giá trị gia tăng giai đoạn 1999 - 2003 đã đơn giản hoá về cơ bản, tạo điều kiện cho cơ quan quản lí thuế và người nộp thuế, thể hiện tính trung lập của thuế. Tuy vậy, vẫn còn có khoảng cách khá lớn giữa mức thuế suất cao nhất (20%) với mức thuế suất thấp nhất (5%). Hiện nay, Việt Nam áp dụng 3 mức thuế suất: 0%, 5%, 10%. Quy định này một mặt giải quyết yêu cầu về khoảng cách giữa các mức thuế suất đồng thời cũng được coi là “bước đệm” cho việc tiến tới áp dụng một mức thuế suất duy nhất trong giai đoạn tới.

Mức thuế suất 10% có thể coi là mức thuế suất chuẩn (Mặc dù còn nhiều quan điểm về mức thuế suất chuẩn, nhưng có thể coi đây là mức thuế suất áp dụng phổ biến, đáp ứng tốt nhất yêu cầu của Nhà nước khi ban hành luật thuế. Dựa trên thuế suẩt chuẩn, các mức thuế suất khác có thể được ban hành nhăm đáp úng yêu cầu cụ thể. Xem: Khoản 4 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng năm 2013), áp dụng cho hàng hoá, dịch vụ thông thường. Mục 3 Điều 8 Luật thuế giá trị gia tăng quy định cụ thể về những hàng hoá, dịch vụ này. cần lưu ý, đối với hàng hoá, dịch vụ áp dụng thuế suất khác nhau, để tránh sai sót, pháp luật thường sử dụng phương án liệt kê. Đối với hàng hoá dịch vụ không nằm trong diện áp dụng mức thuế suất 5%, đều áp dụng mức thuế 10%. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng năm 2013 quy định giảm 50% mức thuế giá ttị gia tăng từ ngày 01/7/2013 đến hết ngày 30/06/2013 đổi với bán, cho thuê, cho thêu mua nhà ở thương mại là căn hộ hoàn thiện có diện tích sàn dười 70m2 và có giá trị dưới 15 triệu đồng/m2. Quy định này nhằm hỗ trợ cho thị trường bất động sản trong giai đoạn này.

Thuế suất 5% áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ ưu đãi, khuyến khích phát triển, đầu tư. Các sản phẩm thiết yếu, sản phẩm công nghiệp nặng hoặc công nghiệp phục vụ nông nghiệp, dịch vụ công cộng... đều nằm trong diện ưu đãi, áp dụng mức thuế 5%. Là mức thuế suất ưu đãi, các đối tượng áp dụng mức thuế suất này đều được ghi nhận cụ thể, chi tiết trong các văn bản pháp luật thuế giá trị gia tăng. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng năm 2013 bổ sung hàng hoá, dịch vụ là “bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở xã hội theo quy định của Luật nhà ở” cũng được áp dụng mức thuế suất 5%.

Việc áp dụng thuế suất khác nhau đổi với hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng, trong chừng mực nhất định, không đảm bảo tính công bằng. Trong nhiều trường hợp, còn khó khăn khi áp dụng. Vì vậy, xu hướng chuyển dần từ cơ chế nhiều thuế suất sang cơ chế một thuế suất là phù hợp và cần thiết.

Thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu, không phân biệt đối tượng và hình thức xuất khẩu. Điều này có nghĩa, mức thuế suất này được áp dụng đổi với cả hoạt động xuất khẩu tại chỗ, các dịch vụ xuất khẩu khi đáp ứng đủ điều kiện pháp luật. Để giảm thiểu khả năng gian lận thuế giá trị gia tăng áp dụng đối với xuất khẩu, pháp luật quy định hàng hoá dịch vụ xuất khẩu phải dựa trên cơ sở hợp đồng, có chứng từ thanh toán qua ngân hàng, có tờ khai hải quan nếu là hàng xuất khẩu. Quy định này áp dụng cả đối với hàng hoá dịch vụ xuất khẩu được xuất khẩu và thanh toán bù trừ (Xem thêm: Điều 6 Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 8/12/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật thuế giá ưị gia tăng năm 2008).

Một trong những điểm mới của Luật thuế giá trị gia tăng 2008 là việc đưa các loại hàng hoá, dịch vụ thuộc diên không chịu thuế giá trị gia tăng, khi được xuất khẩu, cũng được hưởng thuế suất 0%. Khoản 1 Điều 8 Luật Thuế giá ttị gia tăng quy định: Mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu, vận tải quốc tế và hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế quy định tại Điều 5 của Luật này khi xuất khẩu, trừ các trường hợp chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyên sờ hữu trí tuệ ra nước ngoài; dịch vụ tái bảo hiểm ra nước ngoài; dịch vụ câp tín dụng, chuyên nhượng vốn, dịch vụ tài chính phái sinh; dịch vụ bưu chính, viễn thông; sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa qua chế biến quy định tại khoản 23 Điều 5 Luật này. Xem: Điều 9 Luật thuế giá trị gia tăng 2008 và khoản 4, khoản 5 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Điểm mới này thể hiện quan điểm: nhà nước không chỉ dừng lại ở việ khuyến khích hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ để phục vụ cho nội bộ nền kinh tế mà còn mong muốn thúc đẩy việc cung ứng các sản phẩm dịch vụ này ra khỏi biên giới. Việc quy định mức thuế suất 0% tạo cơ hội cho các đối tượng này hoàn thuế giá tị gia tăng đã xuất hiện ở khâu trước, nhưng đồng thời cũng tạo ra khả năng cạnh tranh giữa hàng hoá có xuát xứ từ Việt Nam với hàng hoá cùa các quốc gia khác vào thị trường nước nhập khẩu.

Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập từ các nguồn trên internet)