1. Người khuyết tật có quyền được kết hôn hay không?

Tại Điều 36 của Hiến pháp 2013 được quy định như sau:

- Nam và nữ đều có quyền kết hôn và ly hôn. Hôn nhân được xác định theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, và tôn trọng lẫn nhau.

- Nhà nước cam kết bảo vệ hôn nhân và gia đình, đồng thời bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em.

Theo Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, các điều kiện kết hôn được quy định như sau:

- Nam và nữ kết hôn phải tuân theo các điều kiện sau đây:

+ Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

+ Quyết định kết hôn là sự tự nguyện của cả nam và nữ;

+ Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

+ Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại Điều 5, khoản 2 của Luật này.

- Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.

Do đó, không có quy định nào cấm người khuyết tật kết hôn. Người khuyết tật có thể kết hôn nếu đáp ứng đủ các điều kiện kết hôn mà luật đều quy định. Cả bạn và bạn D đều đủ tuổi để kết hôn, và chỉ cần đảm bảo không ai mất năng lực hành vi dân sự, thì có thể tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn, và mối quan hệ hôn nhân sẽ được công nhận theo quy định của pháp luật.

 

2. Ở Việt Nam, cản trở người khuyết tật kết hôn thì có vi phạm quy định pháp luật hay không?

Dựa vào điểm b khoản 1 của Điều 5 trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, các hành vi sau đây bị cấm:

- Kết hôn giả mạo, ly hôn giả mạo;

- Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

- Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

- Yêu sách của cải trong kết hôn;

- Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;

- Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;

- Bạo lực gia đình;

- Lợi dụng quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.

Ở Việt Nam, cản trở người khuyết tật kết hôn được xem là một trong những hành vi bị cấm theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, thực hiện hành vi này sẽ vi phạm quy định của pháp luật.

 

3. Cản trở quyền kết hôn của người khuyết tật bị xử phạt như thế nào?

Theo Điều 14 của Luật người khuyết tật 2010, quy định về những hành vi bị nghiêm cấm như sau:

- Kỳ thị và phân biệt đối xử đối với người khuyết tật.

- Xâm phạm thân thể, nhân phẩm, danh dự, tài sản, quyền, và lợi ích hợp pháp của người khuyết tật.

- Lôi kéo, dụ dỗ hoặc ép buộc người khuyết tật thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hoặc đạo đức xã hội.

- Lợi dụng người khuyết tật, tổ chức của người khuyết tật, hoặc thông tin cá nhân, tình trạng của họ để trục lợi hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

- Người có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

- Cản trở quyền kết hôn và quyền nuôi con của người khuyết tật.

- Gian dối trong việc xác định mức độ khuyết tật và cấp giấy xác nhận khuyết tật.

Những hành vi nêu trên đều bị nghiêm cấm theo quy định của Luật, nhằm bảo vệ quyền và quyền lợi của người khuyết tật, cũng như đảm bảo tôn trọng và công bằng trong xã hội.

Dựa theo quy định của Điều 11 trong Nghị định 130/2021/NĐ-CP, vi phạm các quy định liên quan đến hành vi bị nghiêm cấm đối với người khuyết tật sẽ bị xử phạt như sau:

- Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

+ Kỳ thị hoặc phân biệt đối xử đối với người khuyết tật;

+ Cản trở quyền kết hôn hoặc quyền nuôi con hợp pháp của người khuyết tật;

+ Cản trở người khuyết tật sống độc lập và hòa nhập cộng đồng;

+ Cản trở người khuyết tật tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội;

+ Cản trở người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận công nghệ thông tin.

- Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện trách nhiệm nuôi dưỡng và chăm sóc người khuyết tật theo quy định của pháp luật.

- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng hình ảnh, thông tin cá nhân, hoặc tình trạng của người khuyết tật, cũng như tổ chức của họ để trục lợi hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

- Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi lôi kéo, dụ dỗ hoặc ép buộc người khuyết tật thực hiện hành vi vi phạm pháp luật mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

- Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 của Điều này.

Theo quy định tại khoản 2 của Điều 5 trong Nghị định 130/2021/NĐ-CP, mức phạt tiền được xác định như sau:

Mức phạt tiền đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính, theo quy định tại Chương II của Nghị định này, sẽ được áp dụng đối với cá nhân vi phạm, trừ những trường hợp được miễn phạt theo quy định tại các Điều 8, 9, 12, 13, 14, khoản 1 Điều 16, Điều 33 và khoản 2 Điều 36 của Nghị định này. Đối với tổ chức vi phạm, mức phạt tiền sẽ là gấp đôi so với mức phạt tiền đối với cá nhân vi phạm.

Do đó, người có hành vi cản trở quyền kết hôn của người khuyết tật sẽ phải đối mặt với mức phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, áp dụng cho cá nhân vi phạm theo quy định của Chương II trong Nghị định nêu trên.

 

4. Các quốc gia xoá bỏ sự phân biệt đối xử đối với người khuyết tật trong các vấn đề liên quan đến hôn nhân và gia đình nhằm bảo đảm những vấn đề gì?

Dựa trên khoản 1 của Điều 23 trong Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2007, quy định về tôn trọng đối với tổ ấm và gia đình như sau:

Quốc gia thành viên cam kết thực hiện các biện pháp hiệu quả và thích hợp nhằm loại bỏ mọi sự phân biệt đối xử đối với người khuyết tật trong các vấn đề liên quan đến hôn nhân, gia đình, cha mẹ, và họ hàng, dựa trên nguyên tắc bình đẳng với những người không khuyết tật. Mục tiêu là bảo đảm:

- Công nhận quyền của mọi người khuyết tật, ở độ tuổi kết hôn, được kết hôn và xây dựng gia đình dựa trên sự đồng ý tự nguyện và hoàn toàn của người dự định trở thành vợ hoặc chồng của họ;

- Công nhận quyền của người khuyết tật có toàn quyền quyết định một cách có trách nhiệm về số con, vị trí của con trong gia đình, và quyền tiếp cận thông tin cũng như giáo dục về sinh sản và kế hoạch hóa gia đình, phù hợp với lứa tuổi của họ, đồng thời cung cấp các phương tiện cần thiết để họ thực hiện những quyền này;

- Hỗ trợ người khuyết tật, bao gồm cả trẻ em, trong việc kiểm soát sinh sản trên cơ sở bình đẳng với những người không khuyết tật.

Do đó, các quốc gia đã loại bỏ sự phân biệt đối xử đối với người khuyết tật trong các vấn đề liên quan đến hôn nhân và gia đình để đảm bảo các quyền sau:

- Công nhận quyền của mọi người khuyết tật ở độ tuổi kết hôn được kết hôn và xây dựng gia đình dựa trên sự đồng ý tự nguyện và hoàn toàn của người dự định trở thành vợ hoặc chồng của họ;

- Công nhận quyền của người khuyết tật có toàn quyền quyết định một cách có trách nhiệm về số con, nơi sống của con, và quyền tiếp cận thông tin và giáo dục về sinh sản cũng như kế hoạch hóa gia đình, phù hợp với lứa tuổi, và cung cấp cho họ những phương tiện cần thiết để thực hiện những quyền này;

- Người khuyết tật, bao gồm cả trẻ em, được khuyến khích kiềm chế sinh sản trên cơ sở bình đẳng với những người khác.

Bài viết liên quan: Quy định pháp luật về chế độ cho người khuyết tật?

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!