Kính thưa quý khách hàng!

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Chúng tôi nhận được yêu cầu của quý khách liên quan đến nội dung cụ thể như sau:

NỘI DUNG YÊU CẦU

Xin chào Qúy công ty.

Tôi muốn sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật với nội dung liên quan đến tranh chấp đất đai như sau:

Ông bà nội tôi có 5 người con gồm bố tôi là con trưởng, chú A và 3 cô B, C, D. Tại thời điểm bố tôi và chú A lập gia đình thì tất cả mọi người cùng sinh sống trên mảnh đất ông cha để lại (mảnh số 1).

Một thời gian sau, ông bà nội tôi quyết định để vợ chồng chú A sống ở mảnh đất số 1, còn ông bà nội, bố mẹ tôi cùng hai cô C, D khai khẩn một mảnh đất khác (mảnh số 2) để sinh sống, lúc này cô B đã đi lấy chồng.

Sau đó hai cô C, D cũng đi lấy chồng, chỉ còn bố mẹ và các anh chị em tôi sống và chăm sóc ông bà nội. Cả nhà tôi đã khai khẩn mở rộng mảnh đất số 2 được mảnh đất mới (mảnh số 3).

Ông nội tôi mất năm 1992, bà nội tôi mất năm 1997. Sau thời điểm này bố mẹ tôi được cấp giấy chứng nhận sổ đỏ cho mảnh đất mà cả nhà đang sinh sống là mảnh số 3.

Mẹ tôi mất năm 2011. Hiện tại cô D muốn gia đình tôi trả cô ấy phần đất cô ấy thừa kế.

>> Xem thêm:  Tình huống chia tài sản thừa kế ? Phân chia tài sản thừa kế theo pháp luật ?

Tôi xin hỏi là về mặt pháp luật thì cô D cũng như các cô B,C và chú A có được hưởng quyền thừa kế trên mảnh đất gia đình tôi đang ở hay không, và nếu có thì phần đất đó được chia thế nào? Văn bản pháp luật nào được dùng làm căn cứ để phân chia mảnh đất đó. Tôi cung cấp thêm thông tin nữa là gia đình tôi được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đất đai cho mảnh đất số 3 vào năm 2006.

Câu hỏi của tôi là hiện tại gia đình tôi đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hãu đất đai cho mảnh đất số 3 (là mảnh đất bao gồm mảnh đất số 2 và phần đất mà bố mẹ và chị em chúng tôi khai khẩn thêm được sau khi ông bà nội mất) vào năm 2006. Thời điểm mà ông bà nội, bố mẹ tôi và hai cô C,D khai khẩn mảnh đất số 2 thì chưa được cấp giấy chứng nhận sở hữu đất cho mảnh số 2 này. Chỉ sau khi ông bà nội tôi mất và chúng tôi khai khẩn thêm, phần đất hiện tại là mảnh số 3 thì mới được cấp sổ đỏ.

Cô D hiện đang muốn đòi quyền sở hữu đất trên mảnh đất mà nhà tôi đang ở và có giấy chứng nhận sở hữu đất đai (đứng tên bố mẹ tôi) - là mảnh đất số 3.

TRẢ LỜI:

CĂN CỨ PHÁP LÝ

Bộ luật dân sự 2015;

Luật đất đai 2013;

Luật đất đai 200.3;

NỘI DUNG TƯ VẤN

Để xác định được việc cô D cũng như các cô B,C và chú A có được hưởng quyền thừa kế trên mảnh đất gia đình Qúy khách đang ở hay không. Cần xác định diện tích đất này có phải là di sản mà ông bà nội Qúy khách để lại hay không?

>> Xem thêm:  Tranh chấp biển đông nam á: Đi tìm giải pháp hòa bình và công lý dựa trên chứng cứ lịch sử và luật pháp quốc tế

Theo thông tin Qúy khách cung cấp, sau một thời gian ông bà nội và bố mẹ Qúy khách đã chuyển từ mảnh số 1 qua mảnh số 2 để sinh sống. Lúc này trên mảnh số hai có ông bà nội, bố mẹ và hai cô C và D khai khẩn và sinh sống trên mảnh đất số 2 này. Để xác định rằng diện tích số 02 nay có phải là di sản của ông bà nội Qúy khách hay không cần xác định rất nhiều yếu tố như: Ai có công cải tạo đất, trên các giấy tờ liên quan đến diện tích đất này đứng tên ai?

Tuy nhiên, trong trường hợp này có một yếu tố rất có lợi cho Qúy khách đó là vào năm 2006 bố quý khách đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ).

Theo quy định tại Điều 50 Luật đất đai 200.3:

“Điều 50. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật;

>> Xem thêm:  Con riêng có thể được thừa kế di sản của mẹ kế ? Quyền được nhận di sản thừa kế ?

e) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn ở miền núi, hải đảo, nay được Uỷ ban nhân dân xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

5. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

6. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ.

7. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

8. Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có các công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có đơn đề nghị xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

b) Được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng và không có tranh chấp.”

>> Xem thêm:  Có thể tố cáo hàng xóm về hành vi lấn chiếm lối đi chung hay không?

Theo quy định này, thời điểm năm 2006 không phải trường hợp nào cũng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà phải đáp ứng đủ các điều kiện trên thì cơ quan có thẩm quyền mới cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bố Qúy khách. Do đó, đến thời điểm hiện tại chưa có một quyết định nào hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bố Qúy khách năm 2006. Vì vậy, không có căn cứ để cho rằng quyền sử dụng đất này là di sản thừa kế của bố Qúy khách để lại thì việc khởi kiện của cô D là không có cơ sở.

Trường hợp này, cô D chỉ có thể đòi chia một phần đất của mảnh số 3 khi có căn cứ cho rằng:

Thứ nhất, đây là tài sản của ông nội Qúy khách để lại. Tuy nhiên, qua thông tin của Qúy khách cung cấp, quan điểm của Luật Minh Khuê cho rằng đây không phải là tài sản của ông nội để lại. Vì nếu là tài sản của ông nội để lại, thời điểm năm 2006 khi bố Qúy khách làm hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải có biên bản phân chia di sản thừa kế, có chữ ký của cô D cũng như những người anh em khác thì bố Qúy khách mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Thứ hai, đây là tài sản chung của ông bà nội, bố mẹ quý khách và cô C, cô D. Để chứng minh cho điều này, trên bản đồ địa chính của UBND xã hoặc các giấy tờ khác phải chứng minh được mảnh đất số 3 là mảnh đất chung của hộ gia đình vào thời điểm cô D còn đang sinh sống với ông bà và bố mẹ Qúy khách.

Nếu cô D không có bất kỳ giấy tờ nào để chứng mình rằng diện tích đất này là di sản của ông nội Qúy khách để lại, cũng như không có căn cứ chứng minh đây là tài sản chung hộ gia đình vào thời điểm cô D đang sinh sống với ông bà và bố mẹ Qúy khách thì cô D không có cơ sở đề yêu cầu hưởng quyền thừa kế cũng như phân chia mảnh đất số 3.

Trong trường hợp này, ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nếu phía Qúy khách còn có các thông tin hay giấy tờ nào liên quan đến vụ việc thì có thể cung cấp thêm để Luật Minh Khuê có thể tư vấn cho Qúy khách ở nhiều góc độ.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi vềPhân chia di sản thừa kế”. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và hồ sơ do quý khách cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để quý khách tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn!

Bộ phận tư vấn Pháp luật

Công ty Luật TNHH Minh

>> Xem thêm:  Thủ tục thừa kế đất đai, nhà ở khi người thân không để lại di chúc ? Quyền thừa kế đất đai ?

>> Xem thêm:  Thời hiệu khởi kiện chia thừa kế là bao lâu ? Hết thời hiệu chia thừa kế làm thế nào ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế bắt đầu từ lúc nào?

Trả lời:

Thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế là từ thời điểm mở thừa kế

Câu hỏi: Theo quy định thì di chúc luôn luôn phải được lập thành văn bản đúng không?

Trả lời:

Điều 627 Bộ luật dân sự 2015 quy định: Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

Câu hỏi: Di chúc được xem là hợp pháp khi nào?

Trả lời:

Điều 630 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

Điều 630. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.