1. Hình thành quy phạm Phần riêng pháp luật hình sự trong giai đoạn(1955-1985)

Việc nghiên cứu các quy định Phần chung pháp luật hình sự của Việt Nam sau cách mạng trong giai đoạn thứ hai - 30 năm sau Cách mạng Tháng Tám cho đến trước khi pháp điển hóa lần thứ nhất và thông qua Bộ luật Hình sự Việt Nam đầu tiên trên đây đã cho thấy:

Trong giai đoạn thứ hai này, hệ thống pháp luật hình sự thực định của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được hình thành chủ yếu là từ hệ thống các văn bản pháp luật hình sự thực định đề cập việc đấu tranh chống các tội phạm riêng biệt (tức Phần riêng pháp luật hình sự) mà việc phân tích hệ thống các văn bản pháp luật hình sự và các quy định Phần chung chính là các minh chứng cho thấy rõ.

Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau nên các quy định Phần riêng pháp luật hình sự Việt Nam lúc bấy giờ (tương ứng như 10 năm trước đó) cũng chưa thể hoàn thiện được (mặc dù đã được bổ sung thêm một số pháp lệnh đề cập riêng về trách nhiệm hình sự đối với một số nhóm tội phạm tương ứng cụ thể).

 

2. Nhóm vấn đề chủ yếu và quan trọng Phần riêng pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn (1955-1985)

Xem xét nội hàm Phần riêng pháp luật hình sự Việt Nam trong 30 năm của giai đoạn thứ hai (1955-1985) cũng sẽ được phân tích khoa học theo hướng tương tự trong 10 năm của giai đoạn thứ nhất - theo ba nhóm vấn đề chủ yếu và quan trọng hơn cả tương ứng với hệ thông các cấu thành tội phạm xâm hại đến ba nhóm khách thể loại trong các lĩnh vực khác nhau của đời sông xã hội.

Có nghĩa là cần căn cứ vào đặc điểm (và cũng là hướng quan trọng) của quá trình xây dựng hệ thông pháp luật hình sự Việt Nam đã xem xét trên đây, cũng như tính chất rộng lớn của ba nhóm khách thể loại đã được bảo vệ bằng pháp luật hình sự sau cách mạng ở Việt Nam trong 30 năm tiếp theo của giai đoạn thứ hai từ sau khi cấm hoàn toàn các đạo luật hình sự cũ đến trước khi pháp điển hóa lần thứ nhất (1955-1985) để làm sáng tỏ nội hàm Phần riêng trong giai đoạn tương ứng thứ hai đã nêu.

Tuy nhiên, do tính chất rộng lớn, đa dạng và nhiều khía cạnh của vấn đề đấu tranh chống các hành vi tội phạm xâm hại đến ba nhóm khách thể loại nên khi nghiên cứu những vấn đề về trách nhiệm hình sự đối với ba nhóm cấu thành tội phạm tương ứng trong ba lĩnh vực nên nội dung dưới đây sẽ chỉ đề cập những vấn đề chủ yếu, cơ bản và quan trọng hơn cả theo hệ thống tương ứng như sau:

a. Các đặc điểm cơ bản của các cấu thành tội phạm xâm hại đến những khách thể trong lĩnh vực xây dựng - tổ chức bộ máy nhà nước;

b. Các đặc điểm cơ bản của các cấu thành tội phạm xâm hại đến những khách thể thuộc lĩnh vực nhân thân (cá nhân), các quyền, tự do và sở hữu của công dân và;

c. Các đặc điểm cơ bản của các cấu thành tội phạm xâm hại đến những khách thể thuộc lĩnh vực xây dựng kinh tế, hôn nhân gia đình và văn hóa - xã hội.

Như vậy, trên cơ sở hệ thống ba nhóm vấn đề đã được chỉ rõ ở trên, sau đây sẽ làm sáng tỏ hệ thống các quy phạm Phần riêng pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn thứ hai sau cách mạng trong 30 năm trước pháp điển hóa lần thứ nhất (1955-1985) cụ thể là về Các đặc điểm cơ bản của các cấu thành tội phạm xâm hại đến những khách thể thuộc lĩnh vực nhân thân (cá nhân), các quyền, tự do và sở hữu của công dân (cấu thành tội phạm xâm hại đến tính mạng và cấu thành tội phạm xâm hại đến sức khỏe con người trong pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn (1955-1985)).

 

3. Đặc điểm cơ bản của các cấu thành tội phạm xâm hại đến những khách thể thuộc lĩnh vực nhân thân

Các đặc điểm cơ bản của các cấu thành tội phạm xâm hại đến những khách thể thuộc lĩnh vực nhân thân (cá nhân), các quyền, tự do và sở hữu của công dân. Việc phân tích khoa học các cấu thành tội phạm xâm hại thuộc các lĩnh vực này trong 30 năm sau Cách mạng Tháng Tám của giai đoạn thứ hai trước pháp điển hóa này (1955-1985) đã cho thấy:

Một điểm khác cơ bản so với các cấu thành tội phạm tương ứng trong 10 năm của giai đoạn thứ nhất (1945- 1955) là chúng không những chỉ được ghi nhận trong các văn bản pháp luật hình sự đúng nghĩa, mà còn được đề cập trong các văn bản pháp luật do Tòa án nhân dân tôì cao ban hành khi giải quyết các vụ án hình sự trong thực tiễn xét xử hình sự của đất nước.

Chính vì vậy, để nhận thấy rõ vấn đề này, cần đưa ra nhận xét về nội hàm của các cấu thành tội phạm này tương ứng với lần lượt 05 khách thể trực tiếp thuộc nhân thân được phân tích là: Tính mạng; Sức khoẻ; Danh dự; Nhân phẩm và; Tự do cá nhân. Bài viết này chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn về 2 khách thể Tính mạng; Sức khoẻ thuộc lĩnh vực nhân thân con người.

 

4. Cấu thành tội phạm xâm hại đến tính mạng con người trong pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn (1955- 1985)

Các cấu thành tội phạm xâm hại đến tính mạng con người trong pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn (1955- 1985) về cơ bản đã được quy định tại: sắc luật số 03/SL-76 ngày 15/3/1976 về tội phạm và hình phạt (điểm a Điều 5) và Thông tư số 03/TT-BTP ngày 17/4/1976 về hướng dẫn sắc luật số 03 quy định về tội phạm và hình phạt (điểm a phần B Mục II) và; Bốn văn bản trong lĩnh vực pháp luật hình sự của Tòa án nhân dân tối cao: Bản chuyên đề tổng kết “Về thực tiễn xét xử loại tội giết người” (Kèm theo Công văn số 452/HS-2 ngày 10/8/1970 của Tòa án nhân dân tối cao); Lời Tổng kết Hội nghị tổng kết ngành Tòa án năm 1976; Lời Tổng kết Hội nghị tổng kết ngành Tòa án năm 1977; và đặc biệt là Chỉ thị số 07-TANDTC/CT ngày 22/12/1983 của Tòa án nhân dân tốì cao về việc xét xử các hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong khi thi hành công vụ.

Việc phân tích khoa học nội hàm các cấu thành tội phạm xâm hại đến tính mạng con người trong các văn bản pháp luật hình sự này đã cho thấy một số nét chủ yêu nêu tại các điểm dưới đây:

a. Trong pháp luật hình sự thực định Việt Nam giai đoạn này nhà làm luật đã ghi nhận bốn cấu thành tội phạm xâm hại đến tính mạng con người là: Cố ý giết người; Cố ý giết người với các tình tiết giảm nhẹ; Vô ý làm chết người và; Vô ý làm chết người dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

b. Cùng với các cấu thành tội phạm xâm hại đến tính mạng con người đã được ghi nhận bằng các quy phạm pháp luật hình sự thực định nêu trên, thực tiễn xét xử giai đoạn này còn biết đến 05 cấu thành tội phạm xâm hại đến tính mạng con người nữa là: Cố ý giết người với các tình tiết tăng nặng đặc biệt hoặc với các tình tiết giảm nhẹ đặc biệt; Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong khi thi hành công vụ và; Bức tử.

c. Nếu như trong pháp luật hình sự thực định Việt Nam sau cách mạng thời kỳ 40 năm chưa pháp điển hóa (1945- 1985), những tình tiết giảm nhẹ của cấu thành tội phạm cố ý giết người vẫn không được điều chỉnh trực tiếp với tư cách là những dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm tương ứng, thì trong thực tiễn xét xử giai đoạn thứ hai (1955-1985) của thòi kỳ này những tình tiết tăng nặng hoặc đặc biệt tăng nặng đã được ghi nhận trực tiếp vối tư cách là những dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm tương ứng mà còn được nhà làm luật liên tục kế thừa cả sau khi pháp luật hình sự Việt Nam đã được pháp điển hóa lần lượt qua ba Bộ luật Hình sự (các năm 1985, 1999 và 2015).

Cho đến nay thì Bộ luật Hình sự năm 2015 hiện hành vẫn còn kế thừa và giữ nguyên 07/16 tình tiết tăng nặng tương ứng tại 7 điểm của cấu thành tội phạm tăng nặng tại khoản 1 Điều 123 Tội giết người (mà 7 điểm này đã được thực tiễn xét xử đưa ra từ hàng chục năm trước đó khi pháp luật hình sự chưa được pháp điển hóa), cụ thể là: Giết 02 người trở lên (điểm a); Giết phụ nữ mà biết là có thai (điểm c); Giết người vì lý do công vụ của nạn nhân (điểm d); Giết người để che giấu tội phạm khác (điểm g); Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người (điểm 1); Có tính chất côn đồ (điểm n) và; Vì động cơ đê hèn (điểm q).

Ngoài ra, thực tiễn xét xử trong giai đoạn (1955-1985) còn giải quyết nhiều vấn để liên quan đến các tội xâm phạm đến tính mạng con người như: Hướng dẫn các tình tiết giảm nhẹ đặc biệt của cấu thành tội phạm cố ý giết người; Chỉ ra các hình thức cụ thể của tất cả những tình tiết tăng nặng vối tư cách là những dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm cố ý giết người tương ứng; Nêu ra các chế tài lựa chọn cần áp dụng và; Xây dựng danh mục mẫu những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ đôì vởi tội cố ý giết người nói chung.

Như vậy, chính việc giải quyết trong thực tiễn xét xử nhũng vấn đề này là minh chứng rõ ràng và xác đáng nhất cho luận điểm khoa học hoàn toàn đúng đắn và bảo đảm sức thuyết phục không chỉ đối với lý luận luật hình sự mà còn đối với thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự của nhà khoa học - luật gia Liên Xô trước đây -TSKH.GS. Tkeseliadze G.T. là: “Thực tiễn xét xử phản ánh các hình thức cụ thể mà trong đó biết được những dấu hiệu của cấu thành tội phạm giúp cho việc quyết định một hình phạt nhất định. Nó là phòng thí nghiêm đặc sắc mà trong đó kiểm tra được tính đúng đắn và hiệu quả của đạo luật hình sự.”

d. Mức hình phạt cao nhất tại các cấu thành tội phạm xâm hại đến tính mạng con người là tử hình, được quy định đôì với hành vi cố ý giết người (trong luật) hoặc hành vi đó vối các tình tiết tăng nặng (trong thực tiễn xét xử); còn mức thấp nhất là 03 tháng tù, được quy định đổì với hành vi giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.

 

5. Cấu thành tội phạm xâm hại đến sức khỏe con người trong pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn (1955-1985)

Các cấu thành tội phạm xâm hại đến sức khỏe con người trong pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn (1955-1985) về cơ bản đã được quy định tại một số văn bản (đã nêu trên), mà việc phân tích nội hàm các cấu thành tội phạm này trong các văn bản pháp luật hình sự đó cho thấy một số nét chủ yếu dưới đây:

a. Pháp luật hình sự thực định quy định hai nhóm hành vi phạm tội tương ứng với 04 câu thành tội phạm xâm hại đến sức khỏe con người là: Cố ý gây thương tích; Cố ý gây thương tích vởi những tình tiết nghiêm trọng; Vô ý gây thương tích; Vô ý gây thương tích với những tình tiết nghiêm trọng.

b. Trong khi đó thực tiễn xét xử cũng đã biết đến 02 cấu thành tội phạm nữa là: Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; Gây thương tích hoặc gây thiệt hại cho sức khỏe trong khi thi hành công vụ.

c. Mức hình phạt cao nhất tại các cấu thành tội phạm là 20 năm tù, được quy định đối với hành vi cố ý gây thương tích với những tình tiết nghiêm trọng; còn mức hình phạt thấp nhất là 03 tháng tù, được quy định đối với hành vi vô ý gây thương tích.

Trân trọng!