1. Khái niệm và dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm 

Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm. Bất kỳ tội phạm nào cũng được thể hiện ra bên ngoài, phản ánh trong thế giới khách quan. Mặt khách quan của tội phạm có những dấu hiệu: Hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả tác hại do hành vi đó gây ra, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm và hậu quả tác hại, thời gian, địa điểm, phương pháp, phương tiện và công cụ thực hiện tội phạm.
Trong số các dấu hiệu của mặt khách quan, dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu bắt buộc phải có ở mọi tội phạm. Nếu không có hành vi nguy hiểm cho xã hội thì không có tội phạm, vì vậy Điều 8 Bộ luật Hình sự quy định tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Chỉ có hành vi nguy hiểm cho xã hội mới gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ. Hành vi nguy hiểm cho xã hội là cách xứ sự nguy hiểm của chủ thể, xâm phạm các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ. Hành vi ấy bị Luật Hình sự cấm. Hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện bằng phương pháp hành động hoặc bằng phương pháp không hành động. Hành vi được thực hiện bằng phương pháp hành động là trường hợp chủ thể làm một việc mà Luật Hình sự đã có quy định cấm. Phần lớn các tội phạm cụ thể quy định trong Bộ Luật Hình sự được thực hiện bằng hương pháp hành động. Hành vi nguy hiểm cho xã hội còn được thực hiện bằng phương pháp không hành động. Đây là trường hợp chủ thể có nghĩa vụ thực hiện một hoạt động nhất định nhưng họ đã không thực hiện nghĩa vụ trong khi có điều kiện thực hiện nghĩa vụ đó. Điển hình là hành vi trốn thuế, trốn tránh nghĩa vụ quân sự, thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản nhà nước, thiếu trách nhiệm để người bị giam trốn...v.v Để truy cứu trách nhiệm hình sự với người thực hiện tội phạm bằng phương pháp không hành động phải làm rõ được: Người phạm tội phải là người có trách nhiệm, nghĩa vụ do pháp luật quy định về công việc chuyên môn của mình, người phạm tội có điều kiện thực hiện nghĩa vụ nhưng họ đã không thực hiện nghĩa vụ ấy.
Hành vi nguy hiểm cho xã hội của tội phạm có đặc điểm chung giống nhau là tính chất nguy hiểm, tính chất do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện xâm phạm đến quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ. Tội phạm trong Bộ luật Hình sự rất đa dạng nên hành vi nguy hiểm cho xã hội cũng đa dạng. Có hành vi nguy hiểm mang tính chất đơn lẻ, để thực hiện tội phạm người phạm tội chỉ cần thực hiện một hành vi do pháp luật quy định. Có hành vi nguy hiểm cho xã hội mang tính chất tội ghép, để thực hiện tội phạm người phạm tội phải thực hiện nhiều hành vi, nói cách khác tội ghép là tội được thực hiện bằng nhiều hành vi như tội cướp tài sản. Người phạm tội cướp tài sản thực hiện một lúc hai hành vi: Dùng vũ lực, hoặc đe dọa dùng vũ lực, hoặc dùng thủ đoạn khác và hành vi thư hai là chiếm đoạt tài sản. Có hành vi nguy hiểm mang tính chất liên tục được gọi là tội liên tục. Đây là trường hợp người phạm tội thực hiện hàng loạt hành vi phạm tội cùng loại, mỗi hành vi phạm tội có tính chất nhỏ lẻ, nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, tuy nhiên khi gộp lại toàn bộ các hành vi, thì tội phạm có mức độ nguy hiêm cho xã hội đáng kể. Trong thực tế, đấu tranh chống tội phạm cũng như quy định của Bộ luật Hình sự còn có hành vi kéo dài gọi là tội kéo dài như tội trốn khỏi nơi giam giữ, tội tàng trữ vũ khí trách phép, tàng trữ các chất ma túy. Tội phạm chỉ chấm dứt khi bị phát hiện hoặc người phạm tội tự thú.
Hậu quả tác hại của tội phạm là một trong các dấu hiệu khách quan của cấu thành tội phạm , là thiệt hại do hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra cho quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ, gồm thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần. Thiệt hại vật chất là những thiệt hại đo đếm, xác định được mức độ nhất định như chết người, gây thương tích với tỷ lệ % tổn hại sức khỏe, thiệt hại tài sản được quy ra bằng tiền v.v... Thiệt hại tinh thần là những thiệt hại khác mà không xác định được lượng mức độ thiệt hại như tội vu khống, tội làm nhục người khác, tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội .v.v.
Hậu quả tác hại có ý nghĩa quan trọng để xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm. Hậu quả tác hại càng lớn thì mức độ nguy hiểm của tội phạm càng cao. Hậu quả tác hại của tội phạm có ý nghĩa xác định giai đoạn hoàn thành của tội phạm. Tội có cấu thành vật chất được coi là hoàn thành khi hành vi nguy hiểm đã gây ra hậu quả tác hại. Tội có cấu thành hình thức được coi là hoàn thành khi người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội theo quy định của điều luật cụ thể trong Bộ luật Hình sự.
Dấu hiệu thời gian, địa điểm trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm chỉ ra rằng tội phạm có thật ở thời gian, địa điểm nhất định. Đây là một trong những vấn đề buộc phải chứng minh trong vụ án hình sự. Phần lớn các tội phạm trong Bộ luật Hình sự không quy định thời gian, địa điểm, nên dù tội phạm xảy ra trong thời gian nào hoặc địa điểm bất kỳ nào đều không ảnh hưởng đến việc định tội. Trừ những tội phạm cụ thể của Bộ Luật Hình sự có quy định thời gian, địa điểm, thì thời gian, địa điểm là dấu hiệu đặc trưng, bắt buộc phải có để định tội như tội hoạt động phỉ phải ở rừng núi hoặc vùng hẻo lánh, tội buôn lậu phải có địa điểm là qua biên giới, tôi làm chết người trong khi thi hành công vụ phải có thời gian là đang thi hành công vụ v.v...
Phương pháp, công cụ thực hiện tội phạm là một trong những dấu hiệu khách quan. Phần lớn các tội trong Bộ luật Hình sự không quy định phương pháp, công cụ là dấu hiệu đặc trưng để định tội, nên trường hợp này dấu hiệu phương pháp, công cụ không phải là dấu hiệu bắt buộc. Tuy nhiên trong Bộ luật HÌnh sự có một số tội phạm quy định phương pháp, công cụ của tội phạm là dấu hiệu đặc trưng để định tội như điểm a, khoản 1 Điều 104: Dùng hung khí nguy hiểm gây thiệt hại cho nhiều người; điểm a khoản 1 Điều 93 quy định giết người bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người v.v. Như ậy, dấu hiệu phương pháp, công cụ của tội phạm là một trong các dấu hiệu phải được chứng minh trong vụ án hình sự, tuy nhiên, để định tội cần tuân theo quy định của các điều luật.
Tóm lại, Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan. Không có sự biểu hiện ra bên ngoài thì không thể coi là tội phạm. Mặt khách quan bao gồm các dấu hiệu bắt buộc như hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Ngoài ra, trong một số trường hợp, các dấu hiệu khác như thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện cũng có thể là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm. 
Hành vi khách quan: Đây là dấu hiệu bắt buộc của mọi tội phạm. Hành vi khách quan là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi này được biểu hiện dưới hai dạng:  
  • Hành động: Làm một việc mà pháp luật hình sự cấm không được làm. Ví dụ: hành động giết người (Điều 123 BLHS), cướp tài sản (Điều 168 BLHS).  
  • Không hành động: Không làm một việc mà pháp luật bắt buộc phải làm. Ví dụ: không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng (Điều 132 BLHS).  
Hậu quả nguy hiểm cho xã hội: Hậu quả là thiệt hại thực tế hoặc khả năng gây thiệt hại do hành vi khách quan gây ra. Hậu quả có thể là thiệt hại vật chất (ví dụ: thương tích, tổn hại tài sản) hoặc thiệt hại phi vật chất, tinh thần (ví dụ: xâm phạm danh dự). Mức độ của hậu quả có thể ảnh hưởng đến tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm.  
Mối quan hệ nhân quả: Mối quan hệ này là dấu hiệu bắt buộc đối với các tội phạm có cấu thành vật chất. Nó đòi hỏi hậu quả thiệt hại phải là kết quả trực tiếp của hành vi khách quan đã thực hiện. Việc xác định mối quan hệ nhân quả phải tuân thủ các điều kiện chặt chẽ, bao gồm:  
  1. Hành vi khách quan phải xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian.  
  2. Hành vi khách quan phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả thiệt hại.  
  3. Hậu quả đã xảy ra là sự hiện thực hóa khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của hành vi khách quan đó.  

Việc chứng minh mối quan hệ nhân quả là một công việc phức tạp trong thực tiễn, đặc biệt trong các trường hợp có nhiều hành vi trái pháp luật cùng tác động, hoặc khi yếu tố điều kiện làm thay đổi mức độ, phạm vi hậu quả.  Xem phân tích chi tiết về: Cấu thành tội phạm là gì? Các loại cấu thành tội phạm

 

2. Phân loại cấu thành tội phạm theo đặc điểm mặt khách quan

Việc phân loại cấu thành tội phạm dựa trên các dấu hiệu bắt buộc của mặt khách quan là một trong những phân loại quan trọng nhất trong luật hình sự, vì nó trực tiếp xác định thời điểm tội phạm được coi là hoàn thành.  

Cấu thành tội phạm vật chất: Loại cấu thành này đòi hỏi cả hành vi, hậu quả nguy hiểm và mối quan hệ nhân quả giữa chúng là những dấu hiệu bắt buộc. Tội phạm chỉ được coi là hoàn thành khi hậu quả nguy hiểm cho xã hội thực sự xảy ra. Ví dụ, Tội giết người (Điều 123 BLHS 2015) là một tội phạm có cấu thành vật chất, vì nó chỉ được coi là hoàn thành khi hậu quả chết người xảy ra.  

Cấu thành tội phạm hình thức: Loại này chỉ yêu cầu dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội là bắt buộc, không cần hậu quả thiệt hại phải xảy ra. Tội phạm được coi là hoàn thành kể từ thời điểm người phạm tội thực hiện xong hành vi nguy hiểm đã được mô tả trong điều luật. Ví dụ, Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc Tội cướp giật tài sản được coi là hoàn thành ngay khi hành vi bắt cóc hoặc cướp giật được thực hiện, bất kể có chiếm đoạt được tài sản hay không.  

Cấu thành tội phạm hỗn hợp: Loại cấu thành này kết hợp các dấu hiệu của cả cấu thành vật chất và hình thức. Nó đòi hỏi hành vi phải bao gồm hai loại dấu hiệu bắt buộc, trong đó có một hành vi nhất định và một hậu quả nhất định. Tội phạm hỗn hợp được coi là hoàn thành khi cả hai dấu hiệu hành vi và hậu quả đều đã xảy ra. Ví dụ điển hình là Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS), hành vi vi phạm quy định về cướp tài sản sau đó sử dụng vũ khí để đe dọa, gây thương tích, hoặc giết người trong quá trình vi phạm. 

 

3. Quan hệ nhân quả của mặt khách quan tội phạm là gì?

Theo quan điểm duy vật biện chứng, quan hệ nhân quả là quan hệ khách quan được hình thành bằng sự tác động giữa các hiện tượng làm nảy sinh hiện tượng mới, hiện tượng mới gọi là hậu quả, sự tác động giữa các hiện tượng là nguyên nhân làm nảy sinh hiện tượng mới.

Bộ Luật Hình sự không đặt ra quan hệ nhân quả, mà sử dụng cặp phạm trù triết học duy vật biện chứng về nguyên nhân và hậu quả. Trong Luật Hình sự quan hệ nhân quả là quan hệ giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi đó gây ra trong khi hành vi nguy hiểm cho xã hội phải xảy ra trước hậu quả tác hại về mặt thời gian, phải là nguyên nhân tất yếu gây ra hậu quả tác hại.

Đặc điểm quan hệ nhân quả là:

- Quan hệ nhân quả là quan hệ khách quan, không phụ thuộc ý muốn chủ quan của con người.

- Hành vi là nguyên nhân gây ra hậu quả tác hại của tội phạm phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi ấy phải được Luật Hình sự quy định trong điều luật thuộc phần tội phạm cụ thể của Bộ luật Hình sự, phải do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý.

- Hành vi nguy hiểm cho xã hội phải xảy ra trước hậu quả tác hại về mặt thời gian.

- Hành vi nguy hiểm cho xã hội phải là nguyên nhân tất yếu dẫn đến hậu quả tác hại nói trên. Một hậu quả có thể do nhiều nguyên nhân thứ yếu, vì vậy hậu quả tác hại phải là sự tất yếu của hành vi nguy hiểm.

Quan hệ nhân quả là dấu hiệu bắt buộc ở những tội có cấu thành vật chất. Khi có hậu quả vật chất xảy ra, người có thẩm quyền phải xác định được hành vi nào là nguyên nhân chủ yếu rây ra hậu quả tác hại của tội phạm để xử lý đúng người, đúng tội. Quan hệ nhân quả có ý nghĩa bảo đảm tính khách quan trong xử lý tội phạm, có tác dụng định hướng điều tra vụ án hình sự, tìm ra thủ đoạn, công cụ phạm tội, xác định đúng người thực hiện tội phạm, truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng tội.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7, gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.