- 1. Các yếu tố cấu thành tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai
- 1.1. Mặt khách quan của tội phạm
- 1.2. Mặt chủ quan của tội phạm
- 1.3. Chủ thể của tội phạm
- 1.4. Khách thể của tội phạm
- 2. Khung hình phạt của Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai
- 2.1. Khung hình phạt chính và hình phạt bổ sung
- 2.2. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
- 2.3. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
- 2.4. Các yếu tố loại trừ trách nhiệm hình sự
- 2.5. Tham khảo hình phạt thông qua các bản án thực tiễn
- 2.6. Phân định ranh giới giữa vi phạm hành chính và vi phạm hình sự
- 2.6. Các trách nhiệm pháp lý khác
- 3. So sánh với Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai (Điều 229)
- 3.1.Điểm giống nhau
- 3.2. Điểm khác nhau
- 4. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và thực tiễn áp dụng
- Kết luận
Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai được quy định tại Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025 (BLHS) là một trong những tội danh hình sự quan trọng nhằm bảo vệ chế độ quản lý này. Bài viết này sẽ cung cấp một phân tích chuyên sâu, toàn diện về tội danh nói trên, đi sâu vào các yếu tố cấu thành, khung hình phạt và giải đáp các vấn đề pháp lý thường gặp, nhằm nâng cao nhận thức và phòng ngừa rủi ro pháp lý cho mọi đối tượng.
Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai là hành vi của cá nhân thực hiện các hoạt động liên quan đến đất đai một cách trái phép, xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý và sử dụng đất đai của Nhà nước, và đã bị xử lý hành chính hoặc hình sự nhưng vẫn tiếp tục vi phạm. Tội danh này được quy định tại Điều 228 trong Chương XVIII - Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của BLHS 2015. Vị trí này cho thấy bản chất của tội phạm là xâm phạm các quy tắc, chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế, cụ thể là quản lý đất đai.
Điều 228 là một trong ba tội danh chính liên quan đến đất đai được quy định trong BLHS, cùng với Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai (Điều 229) và Tội vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (Điều 230). Việc tồn tại song song các tội danh này cho thấy một hệ thống pháp lý toàn diện, vừa kiểm soát hành vi lạm dụng quyền sử dụng đất của người dân, vừa kiểm soát hành vi lạm dụng quyền quản lý đất đai của các quan chức nhà nước, tạo ra một cơ chế phòng vệ kép để bảo vệ quyền sở hữu đất đai của toàn dân.
Theo quy định tại Điều 228 BLHS, các hành vi bị xử lý hình sự bao gồm lấn chiếm đất, chuyển quyền sử dụng đất và sử dụng đất trái với các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai. Mỗi hành vi này có những đặc điểm cụ thể cần được làm rõ như sau:
- Hành vi lấn, chiếm đất đai: Đây là hai khái niệm tuy có liên quan nhưng khác biệt về bản chất. "Lấn đất" là hành vi tự ý dịch chuyển mốc giới hoặc ranh giới thửa đất của mình sang đất của người khác hoặc đất công cộng để mở rộng diện tích sử dụng. Ví dụ, dịch chuyển hàng rào sang phần đất lân cận để có thêm diện tích. Trong khi đó, "chiếm đất" là hành vi sử dụng đất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc việc sử dụng đất do được Nhà nước giao, cho thuê nhưng đã hết thời hạn mà không trả lại. Đây là hành vi xâm phạm quyền sử dụng hợp pháp của chủ thể khác hoặc của Nhà nước một cách trực tiếp.
- Hành vi chuyển quyền sử dụng đất trái pháp luật: Chuyển quyền sử dụng đất bao gồm các hình thức như chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Hành vi này trở thành tội phạm khi người thực hiện không đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Một số trường hợp vi phạm phổ biến là chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi chưa có Giấy chứng nhận, hoặc khi không đủ điều kiện về tách thửa, không đăng ký theo quy định pháp luật.
- Hành vi sử dụng đất không đúng mục đích: Đây là trường hợp người được giao đất đã sử dụng đất không đúng với mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê hoặc công nhận. Hành vi này không nhất thiết phải gây ra thiệt hại nghiêm trọng về vật chất ngay lập tức, nhưng lại phá vỡ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt. Các ví dụ điển hình bao gồm việc sử dụng đất trồng lúa để xây dựng nhà ở, kinh doanh dịch vụ hoặc sử dụng đất giao để trồng rừng nhưng lại nuôi trồng thủy sản.
1. Các yếu tố cấu thành tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai
Để cấu thành tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai cần xác định đầy đủ 04 yếu tố sau: mặt khách quan, mặt chủ quan, về chủ thể và về khách thể của tội phạm.
1.1. Mặt khách quan của tội phạm
Hành vi khách quan của người phạm tội này là hành vi lấn chiếm đất hoặc chuyển quyền sử dụng đất, sử dụng đất trái với quy định của nhà nước về quản lý và sử dụng đất đai, cụ thể:
- Lấn chiếm đất trái quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai: Lấn đất là việc người đang sử dụng đất tự chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất. Chiếm đất là việc sử dụng đất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc việc sử dụng đất được nhà nước giao, cho thuê nhưng hết thời hạn giao, cho thuê đất không được Nhà nước gia hạn mà không trả lại đất hoặc sử dụng đất khi chưa thực hiện thủ tục giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai. Tuy nhiên, trong một chừng mực nhất định thì lấn chiếm cùng có nghĩa bao gồm cả lấn đất và chiếm đất. Ví dụ: Lấn chiếm đất trong trường hợp thi công công trình sau đó không trả lại đất hoặc việc sử dụng đất của người khác, đất công cộng mà không được pháp luật cho phép. Lưu ý, hành vi lấn chiếm đất đai ở đây không thuộc trường hợp chiếm đoạt tài sản người khác, xâm phạm chỗ ở;
- Chuyển quyền sử dụng đất trái với quy định của nhà nước: Được hiểu là việc chuyển quyền sử dụng đất cho người khác (bao gồm các hình thức: chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, góp vốn) trong trường hợp không có đủ các điều kiện chuyển sử dụng đất, hay cấm chuyển nhượng. Chuyển quyền sử dụng đất là việc chuyển giao quyền sử dụng đất từ người này sang người khác thông qua các hình thức chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất và góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Điều kiện chuyển quyền sử dụng đất, bao gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; đất không có tranh chấp; quyền sử dụng không bị kê biên để bảo đảm thi hành án và trong thời gian sử dụng đất, ngoài ra còn một số điều kiện khác theo quy định. Ví dụ: chuyển quyền sử dụng đấy khi chưa có Giấy chứng nhận; chuyển quyền sử dụng đất khi không đủ điều kiện về tách thửa, không đăng ký khi thực hiện việc chuyển quyền, ...
- Sử dụng đất trái với quy định của nhà nước về quản lý và sử dụng đất đai: Đây là trường hợp người sử dụng đất đã không thực hiện đúng hoặc thực hiện không đầy đủ quy định của pháp luật về sử dụng đất. Chẳng hạn, đất canh tác mà xây dựng nhà ở, đất vườn mà xây dựng khu công nghiệp,... Ví dụ: sử dụng đất sai mục đích, ...
Các dấu hiệu khác: Phải thuộc trường hợp bị xử phạt hành chính về một trong các hành vi nêu trên hoặc đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.
1.2. Mặt chủ quan của tội phạm
Lỗi: Trong trường hợp để cấu thành tội này thì người phạm tội thực hiện hiện tội vi phạm quy định về sử dụng đất đai là do lỗi cố ý. Lỗi cố ý bao gồm hai trường hợp, đó là:
- Lỗi cố ý trực tiếp: người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thất trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;
- Lỗi cố ý gián tiếp: người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy nhiên không mong muốn nhưng vẫm có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Động cơ: Trong trường hợp này động cơ của người phạm tội không phải là dấu hiệu bắt cuộc của cấu thành tội phạm, nhưng chủ yếu là động cơ vụ lợi. Động cơ vụ lợi có thể hiểu đơn giản là động cơ mưu cầu lợi ích vật chất cho mình hoặc cho người khác mà mình quan tâm.
1.3. Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của hành vi vi phạm quy định về sử dụng đất đai là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự. Đối với chủ thể của tội phạm này không phải là chủ thể đặc biệt, tuy nhiên người phạm tội này hầu hết là những người sử dụng đất đai.
- Người có năng lực trách nhiệm hình sự: Trong bộ luật hình sự năm 2015 không có quy định nào về năng lực trách nhiệm hình sự nhưng có quy định loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự. Theo đó, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, người có năng lực trách nhiệm hình sự phải là người thực hiện vi nguy hiểm cho xã hội trong khi có năng lực nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình.
- Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự: Người từ đủ 16 tuổi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi loại tuổi. Người từ đủ 14 tuổi đến 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hinhg sự về tội phamh rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trong theo quy định. Theo đó, chủ thể của tội vi phạm quy định về sử dụng đất đai phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên.
- Đồng phạm: Chủ thể của tội phạm có thể là cá nhận thực hiện tội phạm một mình nhưng cũng có thể là nhiều người cùng thực hiện tội phạm. Đồng phạm được hiểu là trong trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm và thực hiện việc phạm tội có tổ chức. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục và người giúp sức. Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm; Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm; Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm. Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.
1.4. Khách thể của tội phạm
Khách thể loại của tội phạm được hiểu là nhóm các quan hệ xã hội cùng hoặc gần tính chất được nhóm các quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ và bị nhóm các tội phạm xâm hại. Với tội danh ngày, khách thể của tội phạm gồm:
- Khách thể của tội phạm này là trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là các quy định của nhà nước trong lĩnh vực về sử dụng đất đai;
- Đối tượng tác động của tội phạm này là đất đai;
Theo quy định của Luật đất đai, đất đai thuộc sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này.
Hậu quả pháp lý đối với vi phạm các quy định về sử dụng đất: Người thực hiện các hành vi vi phạm này có thể bị xử phạt hành chính và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp tội này, người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa xóa án tích mà còn vi phạm nội dung tương tự. Trường hợp thực hiện hành vi lần đầu, người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng vẫn bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định 123/2024/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
2. Khung hình phạt của Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai
Nội dung Điều 228 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội danh này như sau:
Điều 228. Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai
1. Người nào lấn chiếm đất, chuyển quyền sử dụng đất hoặc sử dụng đất trái với các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025 không có sự thay đổi nào về Điều 228.
2.1. Khung hình phạt chính và hình phạt bổ sung
Điều 228 Bộ luật Hình sự quy định các khung hình phạt chi tiết tùy thuộc vào tính chất và mức độ của hành vi phạm tội. Người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án về tội này mà vẫn thực hiện một trong các hành vi sau đây:
- Hành vi lấn chiếm đất;
- Hành vi chuyển quyền sử dụng đất;
- Hoặc sử dụng đất trái với các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai.
Các khung hình phạt đối với người bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi vi phạm các quy định về sử dụng đấ đai, cụ thể bao gồm:
- Khung 1: Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt từ từ 06 đến 03 tháng. Được áp dụng đối với trường hợp phạm tội có đủ dấu hiệu cấu thành cơ bản nêu ở mặt khách quan.
- Khung 2: Người phạm tội có thế bị phạt tiền từ 500 triệu đồng đến 2 tỷ đồng, hoặc phạt tù từ 02 tháng đến 7 năm áp dụng cho các trường hợp tội có một trong các tình tiết định khung hình tăng nặng, như sau:
- Có tổ chức;
- Phạm tội từ 02 lần trở lên;
- Tái phạm nguy hiểm.
- Hình phạt bổ sung: Ngoài việc phải chịu một trong các hình phạt đã nêu trêm thì tùy từng trường hợp cụ thể người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng (và chỉ được áp dụng khi hình phạt chính không phải là tiền).
Như vậy, tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai được quy định cụ thể tại các văn bản quy phạm pháp luật, chủ thể của tội phạm là bất kỳ người nào và hình phạt tối đa của tội này có thể đến 7 năm tù.
2.2. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ có vai trò quan trọng trong việc cá thể hóa hình phạt, đảm bảo sự công bằng trong xét xử. Dựa trên Điều 51 Bộ luật Hình sự, các tình tiết sau có thể được áp dụng đối với Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai:
- Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải: Đây là tình tiết phổ biến nhất và được Tòa án áp dụng rộng rãi. Hai cụm từ này được coi là một tình tiết duy nhất, thể hiện thái độ tích cực của người phạm tội đối với hành vi đã gây ra.
- Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng: Tình tiết này thường được áp dụng đối với các vụ án ở khung 1, khi người phạm tội chưa có tiền án, tiền sự hình sự về cùng tội danh hoặc tội danh khác.
- Tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả: Hành vi tự nguyện bồi thường thiệt hại là một dấu hiệu quan trọng để được giảm nhẹ hình phạt. Bồi thường có thể là giá trị thiệt hại trên đất hoặc các chi phí liên quan.
- Ngoài ra, các tình tiết khác như người phạm tội có thành tích trong công tác hoặc có người thân là người có công với cách mạng cũng có thể được xem xét để giảm nhẹ hình phạt.
2.3. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Điều 52 Bộ luật Hình sự liệt kê các tình tiết tăng nặng chung, nhưng việc áp dụng chúng phải tuân theo nguyên tắc "không được coi là tình tiết tăng nặng" nếu chúng đã được quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt của điều luật đó.
- Phạm tội có tổ chức: Đây là tình tiết định khung tăng nặng tại Khoản 2 Điều 228. Do đó, nếu hành vi phạm tội đã bị truy tố theo Khoản 2 vì có tổ chức, Tòa án không thể tiếp tục áp dụng tình tiết này để tăng nặng thêm hình phạt.
- Phạm tội 02 lần trở lên: Tương tự, đây cũng là tình tiết định khung tăng nặng tại Khoản 2.
- Tái phạm nguy hiểm: Đây cũng là tình tiết định khung tăng nặng tại Khoản 2.
2.4. Các yếu tố loại trừ trách nhiệm hình sự
Các yếu tố loại trừ trách nhiệm hình sự là những trường hợp người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng không phải chịu trách nhiệm hình sự. Một trong số đó là "sự kiện bất ngờ". Tuy nhiên, đối với Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai, việc áp dụng yếu tố này là gần như không thể. Bản chất của tội danh này đòi hỏi mặt chủ quan là lỗi cố ý, tức là người phạm tội có nhận thức và ý chí thực hiện hành vi. Sự kiện bất ngờ, về bản chất, là trường hợp hành vi gây ra hậu quả nhưng người thực hiện không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả đó, đồng nghĩa với việc không có lỗi. Do đó, hai yếu tố này mâu thuẫn trực tiếp với nhau, và trong một tội phạm cố ý thì không thể tồn tại yếu tố loại trừ trách nhiệm hình sự do sự kiện bất ngờ.
2.5. Tham khảo hình phạt thông qua các bản án thực tiễn
Việc phân tích các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân giúp làm rõ cách thức áp dụng Điều 228 trên thực tế. Mặc dù các bản án được công bố không phải là án lệ, chúng vẫn là nguồn tham khảo quý giá để hiểu đường lối xử lý của cơ quan tư pháp.
Dựa trên các tài liệu đã thu thập, có thể phân tích một trường hợp điển hình về hành vi lấn chiếm đất. Cụ thể, trong Bản án số 39/2022/HS-PT ngày 27/05/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng , bị cáo Lê Văn Đ đã bị truy tố về tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai. Chi tiết vụ án cho thấy, bị cáo đã có hành vi "Chiếm đất trồng lúa" và đã bị Ủy ban nhân dân thị xã Ngã Năm xử phạt vi phạm hành chính, nhưng bị cáo chưa chấp hành việc nộp phạt. Khi bị cáo tiếp tục vi phạm, cơ quan tố tụng đã tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự.
Phân tích này minh họa rõ ràng cơ chế hoạt động của Điều 228: một hành vi vi phạm hành chính đơn thuần sẽ chuyển hóa thành tội phạm hình sự khi người vi phạm thể hiện thái độ cố tình tái diễn, bất chấp việc đã bị xử lý hành chính trước đó. Án phạt trong bản án này cho thấy Tòa án đã cân nhắc các tình tiết cụ thể của vụ án, bao gồm cả tiền sự của bị cáo, để đưa ra quyết định phù hợp.
Ngoài ra, một số bản án khác cho thấy đường lối xử lý hình sự của Tòa án. Trong một bản án hình sự về tội danh này , bị cáo đã được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ như "phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng" và "thành khẩn khai báo và tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải". Mặc dù hành vi của bị cáo được nhận định là "gây ra sự bức xúc trong nhân dân", Tòa án vẫn áp dụng hình phạt tương xứng và chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát. Mức phạt nhẹ và thậm chí trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo (trong trường hợp này) cho thấy chính sách hình sự của Việt Nam không chỉ hướng tới trừng trị mà còn chú trọng giáo dục và cải tạo người phạm tội, đặc biệt đối với các tội phạm ít nghiêm trọng. Điều này thể hiện sự cân bằng giữa yêu cầu răn đe, phòng ngừa tội phạm và nguyên tắc khoan hồng, cá thể hóa hình phạt.
Đối với các hành vi chuyển quyền sử dụng đất trái phép và sử dụng đất không đúng mục đích, các tài liệu nghiên cứu đã cung cấp định nghĩa và ví dụ cụ thể. Tuy nhiên, các bản án công khai về các hành vi này còn hạn chế, gây khó khăn cho việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng một cách toàn diện.
2.6. Phân định ranh giới giữa vi phạm hành chính và vi phạm hình sự
Ranh giới giữa vi phạm hành chính và vi phạm hình sự trong lĩnh vực đất đai được xác định chủ yếu thông qua dấu hiệu "đã bị xử phạt vi phạm hành chính" hoặc "đã bị kết án". Đây là điểm đặc thù của Điều 228, tạo ra một mối quan hệ phức tạp giữa hai hệ thống pháp luật.
Vi phạm hành chính được quy định trong các Nghị định của Chính phủ, chẳng hạn như Nghị định 123/2024/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Các hành vi này bao gồm lấn, chiếm đất , chuyển mục đích sử dụng đất trái phép và các vi phạm khác trong lĩnh vực đất đai.
Một vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai sẽ chuyển hóa thành tội phạm hình sự khi người thực hiện hành vi đã bị xử phạt hành chính về chính hành vi đó nhưng vẫn tiếp tục vi phạm. Điều này tạo ra một sự liên kết chặt chẽ giữa pháp luật hình sự và các văn bản dưới luật. Sự thay đổi trong các Nghị định về xử phạt hành chính có thể trực tiếp làm thay đổi "ngưỡng" để một hành vi trở thành tội phạm. Điều này có thể gây ra sự thiếu ổn định trong thực tiễn áp dụng và đòi hỏi các cơ quan tố tụng phải luôn cập nhật các văn bản dưới luật.
2.6. Các trách nhiệm pháp lý khác
Ngoài hình phạt hình sự, người phạm tội còn phải đối mặt với các hậu quả pháp lý khác, bao gồm trách nhiệm hành chính và dân sự.
- Thu hồi đất: Hành vi vi phạm các quy định về sử dụng đất đai, đặc biệt là lấn chiếm hoặc sử dụng sai mục đích, có thể dẫn đến việc đất đó bị Nhà nước thu hồi. Trình tự, thủ tục thu hồi đất được quy định chi tiết trong Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn.
- Buộc bồi thường thiệt hại: Người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai, nếu gây thiệt hại, phải bồi thường theo quy định. Trách nhiệm bồi thường có thể phát sinh từ thiệt hại thực tế đối với cây trồng, vật nuôi hoặc các tài sản khác trên đất, dù đất đó có phải là đất lấn chiếm hay không được cấp phép sử dụng.
3. So sánh với Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai (Điều 229)
Mặc dù cùng thuộc nhóm tội phạm về quản lý đất đai, Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai (Điều 228) và Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai (Điều 229) có những điểm khác biệt cốt lõi, phản ánh sự phân tầng trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực này.
3.1.Điểm giống nhau
Cả hai tội danh đều có một số điểm tương đồng cơ bản:
- Khách thể: Cùng xâm phạm đến chế độ quản lý và sử dụng đất đai của Nhà nước, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân.
- Đối tượng tác động: Đều là đất đai, một tài nguyên đặc biệt thuộc sở hữu toàn dân.
- Mặt chủ quan: Đều được thực hiện với lỗi cố ý, dù là cố ý trực tiếp hay gián tiếp.
3.2. Điểm khác nhau
Sự khác biệt cơ bản giữa hai tội danh thể hiện qua chủ thể, hành vi và các dấu hiệu định tội. Điều này phản ánh một triết lý lập pháp rõ ràng, phân biệt giữa người thực hiện hành vi vi phạm với tư cách là người sử dụng đất và người thực hiện hành vi với tư cách là người có chức vụ, quyền hạn quản lý đất đai.
| Tiêu chí so sánh | Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai (Điều 228) | Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai (Điều 229) |
| Chủ thể | Bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự. | Chủ thể đặc biệt: Người có chức vụ, quyền hạn trong việc quản lý đất đai (giao đất, thu hồi, cho thuê, v.v.). |
| Hành vi khách quan | Các hành vi "sử dụng" đất trái phép: Lấn chiếm đất, chuyển quyền sử dụng đất trái phép, sử dụng đất trái quy định. | Các hành vi "quản lý" đất trái phép: Lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn để giao đất, thu hồi, cho thuê, cho phép chuyển quyền sử dụng, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái pháp luật. |
| Yếu tố định tội | Đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. | Gây hậu quả nghiêm trọng về diện tích đất hoặc giá trị quyền sử dụng đất, hoặc đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm. |
Sự khác biệt này cho thấy Điều 229 hướng tới việc xử lý các hành vi làm "biến dạng" hệ thống quản lý của Nhà nước, thường liên quan đến lạm dụng quyền lực, với hậu quả thường lớn hơn và mang tính hệ thống hơn. Ngược lại, Điều 228 tập trung vào các hành vi "lệch lạc" trong khuôn khổ sử dụng đất của người dân, gây rối loạn trật tự sử dụng đất. Việc sử dụng các tiêu chí định tội khác nhau (xử phạt hành chính đối với Điều 228 và hậu quả/xử lý kỷ luật đối với Điều 229) là một sự phân định pháp lý hợp lý và có chủ đích.
4. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và thực tiễn áp dụng
Mặc dù Điều 228 Bộ luật Hình sự 2015 đã có nhiều điểm tiến bộ so với Bộ luật Hình sự 1999 , thực tiễn áp dụng vẫn bộc lộ một số vướng mắc và hạn chế. Một trong những hạn chế lớn nhất là sự thiếu thống nhất trong việc định nghĩa và áp dụng các hành vi vi phạm, cũng như sự phụ thuộc chặt chẽ vào các văn bản dưới luật.
Để khắc phục những tồn tại này, cần có các giải pháp đồng bộ từ việc hoàn thiện khung pháp lý đến nâng cao hiệu quả thi hành.
Thứ nhất, hoàn thiện văn bản hướng dẫn. Cần có các văn bản hướng dẫn chi tiết, thống nhất từ Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hoặc Viện kiểm sát nhân dân Tối cao về cách thức xác định các hành vi "trái quy định của pháp luật" và tiêu chí áp dụng các tình tiết định khung tăng nặng. Việc này sẽ giúp các cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở pháp lý rõ ràng hơn để áp dụng điều luật.
Thứ hai, đồng bộ với Luật Đất đai mới. Việc ban hành Luật Đất đai năm 2024 và các Nghị định hướng dẫn thi hành (như Nghị định 226/2025/NĐ-CP) là cơ hội lớn để đồng bộ hóa và làm rõ các quy định. Các cơ quan lập pháp cần đảm bảo rằng các định nghĩa về hành vi vi phạm trong các văn bản dưới luật phải tương thích và nhất quán với các thuật ngữ trong Bộ luật Hình sự.
Thứ ba, đẩy mạnh việc công bố án lệ: Việc thiếu án lệ hoặc các bản án điển hình về các hành vi khác nhau của Điều 228 gây khó khăn cho việc nghiên cứu và áp dụng. Tòa án nhân dân Tối cao cần xem xét và lựa chọn các bản án có tình huống pháp lý điển hình để làm án lệ, đặc biệt là đối với các hành vi chuyển quyền sử dụng đất trái phép hoặc sử dụng đất sai mục đích, nhằm tạo tiền đề cho việc xét xử thống nhất và công bằng hơn trong tương lai.
Kết luận
Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai theo Điều 228 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ trật tự quản lý và sử dụng đất đai của Nhà nước. Cấu thành tội phạm của tội danh này thể hiện sự chuyển hóa từ vi phạm hành chính sang tội phạm hình sự khi hành vi vi phạm tái diễn, phản ánh thái độ coi thường pháp luật của người thực hiện. Sự phân định rõ ràng giữa tội danh này và Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai (Điều 229) về chủ thể và hành vi cho thấy một cấu trúc pháp lý có hệ thống và logic.
Thực tiễn xét xử cho thấy việc áp dụng Điều 228 đã đạt được hiệu quả nhất định trong việc răn đe và xử lý hành vi vi phạm, đồng thời thể hiện sự linh hoạt, nhân văn của chính sách hình sự thông qua việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên, vẫn còn những thách thức trong việc xác định và áp dụng các quy định trên thực tế, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý và tư pháp. Việc tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết và tăng cường công khai án lệ sẽ là những giải pháp then chốt để đảm bảo việc thi hành pháp luật đất đai ngày càng công bằng, minh bạch và hiệu quả hơn.
Hy vọng bài viết này sẽ cung cấp những thông tin đầy đủ cho quy khác hàng khi muốn tìm hiểu về những quy định của pháp luật điều chỉnh về việc sử dụng đất đai, các dấu hiệu nhận biết để cấu thành tội vi phạm các quy định về sử dụng đất tai và chế tài xử lý đối với những tội phạm đó theo quy định của pháp luật.
Nếu quý khách hàng còn bất kỳ vướng mắc, không hiểu nào về vấn đề này hay bất kỳ vấn đề pháp lý liên quan nào khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ qua số tổng đài tư vấn pháp luật hình sự miễn phí của công ty Luật Minh Khuê chúng tội 1900.6162 để nhận được sự giải đáp thắc mắc một cách nhanh chóng, kịp thời đến từ đội ngũ luật sư và chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm chuyên môn. Xin cảm ơn sự hợp tác từ quý khách hàng. Trân trọng!