1. Khái quát chung hoạt động tâm lý

Hoạt động là phương thức tồn tại đặc trưng của con người với đặc điểm là tính chủ động, linh hoạt, sáng tạo. Bất kỳ hoạt động nào cũng dựa trên những cơ sở nhất định để xác định phương hướng, phương châm và biện pháp tiến hành, đồng thời để xây dựng những phương án hành động cụ thể, linh hoạt. 
Cơ sở tâm lý của hoạt động là những điều kiện về tâm lý mà hoạt động đó cần quán triệt để đem lại hiệu quả. Cơ sở tâm lý học của hoạt động điều tra tội phạm được đề cập từ hai khía cạnh, thứ nhất là quan điểm tâm lý học đảm bảo về mặt lý luận rằng hoạt động điều tra (nhận thức lại về sự kiện không bình thường đã thuộc về quá khứ) hoàn toàn có thể đạt được kết quả mong muốn, thứ hai là những thành tựu của tâm lý học mà hoạt động điều tra có thể và cần phải sử dụng, vận dụng để làm tăng hiệu quả hoạt động, giúp cho điều tra thuận lợi, nhanh chóng hơn. Cơ sở tâm lý học của hoạt động điều tra tội phạm là:
 

2. Luận điểm Tâm lý học về Hoạt động

Luận điểm Tâm lý học về bản chất hoạt động của tâm lý người đã chỉ rõ: Tâm lý và hoạt động thống nhất chặt chẽ với nhau, hành động vật chất của con người là sự hiện thực hoá “cái tâm lý” của chủ thể. Trong sản phẩm hoạt động của con người bao giờ cũng ghi lại, phản ánh những đặc điểm của chủ thể và đặc điểm của quá trình hoạt động, vì thế căn cứ vào những “dấu vết” của hoạt động, hoàn toàn có thể nhận thức được tương đối đầy đủ và chính xác về những đặc điểm đặc trưng của chủ thể và đặc điểm cũng như diễn biến của quá trình hoạt động.
Đặc trưng cơ bản phân biệt hành vi người và hành vi động vật là ở tính ‘‘phản ánh trước’’. Trước khi thực hiện một hoạt động hay hành động cụ thể nào đó, chủ thể đã hình dung trước trong óc toàn bộ mô hình quá trình hoạt động (bao gồm phương thức, phương tiện, thời gian, địa điểm, lực lượng, cách làm...và cả sản phẩm cuối cùng cần đạt được), dự kiến những tình huống có thể gặp phải và phương án khắc phục, thay thế, và khi thực hiện hành động thực tế, chủ thể luôn đối chiếu với mô hình đó để thực hiện và điều chỉnh. Nói cách khác, quá trình hoạt động thực tiễn chỉ là quá trình ‘‘hiện thực hóa’’ cái mô hình đã được tưởng tượng trong óc ra thành hiện thực bên ngoài. Ăng Ghen đã từng nói: Một người thợ tồi nhất cũng còn hơn con ong khéo léo nhất, vì trước khi xây từng ngăn tổ của mình thì người thợ đã hình dung trước toàn bộ công việc, hình dung trước từng ngăn tổ ấy trong óc của mình rồi.
Mỗi cá nhân (và cả nhóm người) đều là những chủ thể tâm lý có những đặc điểm riêng của mình, và vì vậy sản phẩm hoạt động và quá trình hoạt động tạo ra sản phẩm của mỗi người hay mỗi nhóm người đều có những đặc điểm riêng, do đó, dù không trực tiếp chứng kiến quá trình hoạt động, nhưng nếu tìm hiểu được những đặc điểm được phản ánh trong sản phẩm và đặc điểm của quá trình hoạt động được phản ánh qua dấu vết để lại (cả dạng phản ánh vật chất và phản ánh tâm lý), thì vẫn có thể nhận thức được tương đối đầy đủ về chủ thể của hoạt động và diễn biến của quá trình đó. Đây chính là cơ sở lý luận cho phép khẳng định: Tội phạm mặc dù là hiện tượng không bình thường và đã thuộc về quá khứ, nhưng hoàn toàn có thể nhận thức được tương đối đầy đủ, và hoạt động điều tra hoàn toàn có đủ khả năng để làm rõ về mọi tội phạm, vì hành vi phạm tội là hoạt động có ý thức của con người, dù có được che dấu đến đâu cũng vẫn để lại dấu vết phản ánh về chủ thể và quá trình hành động, hoạt động điều tra hoàn toàn có thể đạt được mục đích nhận thức lại về tội phạm đó.
Luận điểm này của tâm lý học cũng chỉ rõ vấn đề mấu chốt của hoạt động điều tra là phải phát hiện và thu thập được đầy đủ, chính xác những thông tin phản ánh về tội phạm. Mục đích trực tiếp của tất cả các biện pháp điều tra đều phải quán triệt là thu được thông tin đầy đủ và chính xác thì mới có thể nhận thức đúng đắn về tội phạm. 
 

3. Tri thức về tâm lý người, về phương pháp nghiên cứu tâm lý và phương pháp tác động tâm lý 

Về mặt thực tiễn, những thành tựu của Tâm lý học đã đạt được chính là những phương tiện hữu hiệu mà hoạt động điều tra có thể và cần phải vận dụng, sử dụng để đạt được mục đích. Khoa học tâm lý đã chỉ ra bản chất và những quy luật cụ thể của tâm lý người (các quy luật của các hiện tượng tâm lý cụ thể ở con người, quy luật về sự hình thành tâm lý và sự tác động qua lại giữa tâm lý và hành vi), chỉ ra các phương pháp nghiên cứu, phân tích, đánh giá về tâm lý của con người và đặc biệt là các phương pháp, thủ thuật tác động tâm lý trong điều tra tội phạm. Cán bộ điều tra có thể sử dụng tất cả những thành tựu mà khoa học Tâm lý đã đạt được làm phương tiện để nâng cao hiệu quả hoạt động, đảm bảo nhận thức đúng đắn và kịp thời. 
Thực tiễn cũng cho thấy, những cán bộ (chủ thể của hoạt động điều tra) làm việc hiệu quả là những cán bộ điều tra được trang bị những phương tiện tâm lý phù hợp (những tri thức – kĩ năng nghề nghiệp, những phẩm chất cá nhân, tri thức tâm lý học), trong hoạt động của mình luôn biết vận dụng kiến thức tâm lý học để phán đoán, phân tích tâm lý đối tượng và biết sử dụng tác động tâm lý hợp lý. 
Tuy ra đời muộn hơn nhiều khoa học khác, nhưng Tâm lý học đã đạt được những thành tựu to lớn, trả lời được câu hỏi mà suốt 25 thế kỷ (TK6 TCN–TK19) các nhà nghiên cứu dày công tìm tòi, đó là: Tâm lý người là gì ?
Cho đến nay, Tâm lý học đã trở thành người bạn đồng hành với các khoa học khác và thâm nhập vào tất cả mọi lĩnh vực của đời sống. Những tri thức mà tâm lý học cung cấp là những phương tiện hữu hiệu và rất cần thiết giúp cho hoạt động điều tra đạt được hiệu quả, cán bộ điều tra cần phải nắm vững và có ý thức vận dụng, ứng dụng triệt để những tri thức đó trong hoạt động.
 

4. Cấu trúc tâm lý của hoạt động điều tra tội phạm

Nghiên cứu cấu trúc và cấu trúc tâm lý của hoạt động có ý nghĩa hết sức quan trọng, giúp cho chủ thể nhận thức rõ hoạt động đó gồm thành phần cơ bản nào, có đặc điểm gì... và những yêu cầu cần có ở chủ thể để đáp ứng yêu cầu của hoạt động đó.
Cấu trúc tâm lý của hoạt động được các nhà tâm lý học hoạt động phân tích theo mô hình 6 thành tố thuộc hai hình thái là động cơ - mục đích - phương tiện và hoạt động - hành động - thao tác. Nếu xem xét hoạt động ở dạng hiện thực thì mỗi hoạt động của con người tác động vào đối tượng nào đó cũng được thể hiện ở hai hình thái: hình thái vật chất thể hiện bên ngoài và hình thái tâm lý diễn ra trong đầu chủ thể. Mỗi hình thái đều được tạo bởi 6 thành tố có liên hệ mật thiết, quy định lẫn nhau. Hoạt động nào cũng do động cơ thúc đẩy (động cơ là cái được hợp thành bởi các yếu tố thúc đẩy là nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, tâm thế), được cụ thể hoá bằng cái mà chủ thể muốn đạt được cuối cùng. Mỗi hoạt động được thực hiện và thể hiện ra bằng chuỗi các hành động, các hành động được thực hiện bằng các thao tác cụ thể (cử động vật chất sử dụng công cụ, phương tiện tác động vào đối tượng hoặc các thao tác trí tuệ sử dụng kinh nghiệm tác động vào mô hình tư duy). Mỗi hành động của hoạt động đều nhằm tới những mục đích cụ thể, mỗi mục đích đó là một “phần” của động cơ được chia nhỏ.
 

4.1 Cấu trúc tâm lý của hoạt động điều tra theo các nội dung hoạt động

Căn cứ vào nội dung và các mục tiêu hướng đến trong hoạt động điều tra, cấu trúc tâm lý của hoạt động điều tra  bao gồm các bộ phận cơ bản: Nhận thức - xây dựng - truyền đạt, giáo dục. Nhận thức và xây dựng hướng mục đích đến chủ thể, còn truyền đạt, giáo dục hướng mục đích đến khách thể của hoạt động. 
- Hoạt động nhận thức
 Xét về mục đích chung, toàn bộ hoạt động điều tra là quá trình nhận thức. Mỗi hành động điều tra cụ thể (khám nghiệm, khám xét, hỏi cung, lấy lời khai, tổ chức nhận dạng - nhận diện, tổ chức đối chất, tổ chức thực nghiệm điều tra, tiến hành các hoạt động nghiệp vụ trinh sát) đều là các quá trình nhận thức gián tiếp về vụ án từ những góc độ nhất định. Nói cách khác, mỗi hành động cụ thể ấy đều nhằm nhận thức về những tình tiết của vụ án từ những góc độ khác nhau để có được sự nhận thức khách quan, toàn diện về sự kiện phạm tội. Quá trình nhận thức trong điều tra có thể chia thành các giai đoạn: nhận thức, đánh giá sơ bộ những thông tin ban đầu; nhận thức, đánh giá các thông tin thu được; nhận thức đánh giá tổng hợp; nhận thức đánh giá tổng kết (khâu rút kinh nghiệm). Tất cả các giai đoạn đều nhằm tới mục tiêu cuối cùng là xây dựng được mô hình khách quan, chính xác về sự kiện phạm tội, nhưng mỗi giai đoạn có những đặc thù riêng về đối tượng nhận thức và điều kiện, yêu cầu nhận thức, và do đó các quy luật của các quá trình nhận thức chi phối trong các giai đoạn đó cũng có đặc thù riêng.
- Hoạt động thiết kế - xây dựng
 Hoạt động xây dựng trong quá trình điều tra thể hiện trong tất cả các giai đoạn điều tra, nhưng rõ nét nhất là ở giai đoạn ban đầu (hay còn gọi là giai đoạn chuẩn bị cho hoạt động điều tra) và giai đoạn tổng hợp viết kết luận điều tra. Trong giai đoạn đầu, hoạt động thiết kế - xây dựng thể hiện ở việc cán bộ điều tra dựa trên cơ sở những thông tin ban đầu, kết hợp với kinh nghiệm cũ xác lập các giả thuyết về tính chất, về động cơ phạm tội, về đối tượng phạm tội, về diễn biến của tội phạm, về nơi cất giầu tang vật, hung khí, về hướng hành động tiếp theo của thủ phạm…Trên cơ sở các giả thuyết đó, cán bộ điều tra xây dựng nên kế hoạch tiến hành các biện pháp điều tra cụ thể, hình dung các tình huống có thể gặp phải và các phương án giải quyết các tình huống đó. Kết quả xây dựng kế hoạch có ý nghĩa chỉ đạo cả về mặt tâm lý và hành động cho toàn bộ quá trình điều tra. Tất cả những vấn đề này dựa trên những thông tin ban đầu ít ỏi và chưa được chứng minh, do đó cán bộ điều tra phải huy động hết khả năng tưởng tượng và trí nhớ của mình, ở đây các quy luật trí nhớ, tư duy, tưởng tượng đều chi phối rõ nét. 
Hoạt động xây dựng ở giai đoạn xử lý thông tin xây dựng hình mẫu tư duy về sự kiện phạm tội (nhận thức tổng hợp về vụ án) để đi đến kết luận điều tra là khâu vô cùng quan trọng, nó ghi nhận sự nỗ lực và khả năng của cán bộ điều tra, đồng thời quyết định trực tiếp đến sự đúng đắn trong việc giải quyết vụ án. Kết quả hoạt động xây dựng ở giai đoạn này là hình mẫu tư duy đầy đủ về sự kiện phạm tội, độ chính xác và đầy đủ của hình mẫu này phụ thuộc cả vào tính chính xác đầy đủ của thông tin và tính hợp pháp của việc thu thập thông tin đó, cả vào tính tích cực và khả năng tư duy của cán bộ điều tra. 
Với những thông tin thu được, cán bộ điều tra phân tích, sàng lọc, xác định giá trị chứng minh, phân loại và liên kết chúng lại với nhau theo trình tự lô gic để được mô hình bức tranh toàn cảnh về sự kiện phạm tội. Ở đây, hoạt động tư duy của cán bộ điều tra đóng vai trò quyết định, và quy luật vận động nội tại của tư duy (sự vận hành các thao tác tư duy) thể hiện rõ chức năng của nó. Nếu quá trình tư duy để xử lý các thông tin của cán bộ điều tra không tích cực, các thao tác tư duy không hợp lý thì mặc dù các thông tin thu được là đầy đủ, chính xác, thì mô hình tư duy về sự kiện phạm tội được xây dựng cũng chỉ là cơ bản, thiếu đầy đủ (sự kiện phạm tội bị “vo tròn”, đơn giản hoá), thậm chí có thể sai bản chất. Cán bộ điều tra trong giai đoạn này cần phải huy động tư duy tích cực, tuân thủ chặt chẽ quy trình điều tra và phải sử dụng tích cực, triệt để các thao tác tư duy (phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng, khái quát hóa).
-  Hoạt động giáo dục
Hoạt động điều tra tội phạm không chỉ nhằm mục đích nhận thức, mà còn mang đậm và thể hiện rõ tính giáo dục, điều đó thể hiện trước hết là ở chức năng giáo dục chung: hoạt động điều tra làm rõ vụ án vừa thực hiện chức năng tích cực là xác định cơ sở khách quan để giải quyết mối quan hệ pháp lý nảy sinh giữa công dân với nhà nước, đảm bảo cho việc áp dụng hình phạt được khách quan, chính xác, đảm bảo tính nghiêm minh, công bằng của pháp luật, đồng thời qua đó thực hiện chức năng phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm. Hoạt động điều tra được tiến hành nghiêm túc và đạt hiệu quả cao có ý nghĩa giáo dục cho công dân tính nghiêm minh của pháp luật, cảnh báo cho những cá nhân chưa có ý thức tuân thủ pháp luật về khả năng sẽ bị trừng trị nếu vi phạm, củng cố niềm tin vào chân lý và trật tự pháp luật, niềm tin vào Đảng, Nhà nước.
Hoạt động giáo dục trong điều tra còn thể hiện rõ nét ở mặt hiện thực trong quá trình tác động qua lại giữa cán bộ điều tra với các chủ thể tâm lý khác (bị can, người bị hại, người làm chứng, các cán bộ phối hợp) để thu thập thông tin. Các chủ thể lưu giữ  những thông tin phản ánh về tội phạm thường không chủ động tự giác cung cấp, muốn khai thác được những thông tin cần thiết, cán bộ điều tra phải tác động điều chỉnh tâm lý của họ. Phương châm chủ đạo là phải thuyết phục, cảm hoá chính trị tư tưởng để họ có giác ngộ về nghĩa vụ công dân, về lợi ích chính đáng, từ đó tự giác cung cấp thông tin. Đặc biệt đối với bị can, nội dung giáo dục còn bao gồm cả việc tuyên truyền, cung cấp cho họ tri thức về các quy phạm pháp luật, quy phạm đạo đức để uốn nắn nhân cách, thay đổi những nét tâm lý xấu ở họ. Nói cách khác, cán bộ điều tra phải thực hiện tác động giáo dục với nhiều khách thể khác trong chính quá trình điều tra. Cán bộ điều tra phải quán triệt được mục đích thu thông tin của các hoạt động và phải có hiểu biết các phương pháp tác động tâm lý, có kỹ năng thực hiện tác động tâm lý.
Cách phân tích cấu trúc tâm lý của hoạt động điều tra như trên không có nghĩa là phân chia hoạt động điều tra thành những mảng riêng rẽ, mà là chỉ ra các bộ phận hợp thành của nó để xem xét vận dụng. Thực chất trong quá trình điều tra, các dạng hoạt động này thể hiện lồng vào nhau không thể tách rời: nhận thức trong giai đoạn đầu nhằm xây dựng giả thuyết điều tra để hướng tới nhận thức cuối cùng, đồng thời cũng chịu sự chỉ đạo của “mô hình” cuối cùng được giả định; nhận thức được tiến hành nghiêm túc, thận trọng mang ý nghĩa giáo dục cho toàn xã hội (giáo dục lồng trong toàn bộ hoạt động); quá trình tác động giáo dục khách thể cụ thể (bị can, NLC…) phải luôn sáng tạo, có kế hoạch và cũng nhằm để nhận thức về vụ án.v.v.. Cách phân tích này cho thấy rõ hoạt động điều tra là hoạt động đặc biệt vừa mang tính chất của nhận thức tái tạo (nhận thức về sự kiện có thật đã xảy ra), vừa mang tính chất của hoạt động giáo dục (tác động giáo dục các khách thể tham gia trong điều tra, giáo dục các công dân khác), đồng thời cũng mang tính chất lao động sáng tạo (thiết kế, xây dựng giả thuyết, xây dựng kế hoạch điều tra). Cán bộ điều tra phải vừa có đức tính kiên nhẫn, cầu thị của người học, vừa là một nhà thiết kế – thi công, vừa là một nhà giáo dục, nhà tâm lý học.
Một số nhà tâm lý học khác còn cho rằng, trong cấu trúc của hoạt động điều tra tội phạm còn có cả hoạt động thiết lập các văn bản pháp lý, cần phải phân tích cả những yếu tố, những quy luật tâm lý chi phối việc lập các văn bản pháp lý xác định tính hợp pháp của hoạt động và kết quả hoạt động điều tra. Điều đó cũng có nghĩa là việc lập các văn bản trong điều tra không chỉ mang ý nghĩa là thủ tục tố tụng, mà thực sự là một nội dung của hoạt động điều tra, không được coi nhẹ.
Các văn bản được thiết lập trong hoạt động điều tra (các quyết định khởi tố, các loại văn bản như bản kết luận giám định, biên bản hỏi cung, bản kết luận điều tra,......) là những văn bản có ý nghĩa pháp lý đảm bảo tính hợp pháp và giá trị của các hoạt động điều tra cụ thể, xác định giá trị của những tài liệu, chứng cứ, nó đòi hỏi những yêu cầu chặt chẽ về tính trung thực, chính xác, chặt chẽ và kỹ thuật. Trong việc lập các văn bản này, cán bộ điều tra dễ mắc phải một số sai phạm: 
- Ghi văn bản không đảm bảo tính chặt chẽ vì cho rằng đó chỉ là thủ tục, không chú trọng đến giá trị chứng cứ của văn bản đó. (biên bản khám nghiệm, biên bản thu giữ vật chứng...).
- Ghi văn bản theo cách hành văn của người ghi, không đảm bảo tính chính xác, trung thực của tài liệu (biên bản hỏi cung, biên bản lấy lời khai...).
- Chế biến, cắt gọt tài liệu cho phù hợp với ý định chủ quan, làm cho sự việc bị hiểu phiến diện, không phản ánh đầy đủ bản chất sự việc (kết luận điều tra, biên bản thực nghiệm...).
Để đảm bảo yêu cầu của các văn bản trong điều tra, cán bộ điều tra phải luôn quán triệt ý nghĩa của các văn bản đó, đồng thời phải được trang bị đầy đủ kỹ năng thực hiện các loại văn bản cụ thể.
 

4.2 Cấu trúc tâm lý của hoạt động điều tra theo các yếu tố cấu thành hình thái bên trong của hoạt động

Có thể phân tích cấu trúc của hoạt động điều tra tội phạm dưới góc độ tâm lý học theo một cách khác dựa trên các yếu tố cấu thành mặt bên trong của hoạt động, đó là phân tích về động cơ, mục đích, phương tiện của hoạt động.
-  Động cơ hoạt động
 Động cơ thường được hiểu là mục đích bao trùm của toàn bộ hoạt động, là mô hình kết quả cuối cùng mà hoạt động nhằm đạt tới. Trong hoạt động thì động cơ được chia nhỏ thành các mục đích của các hành động cụ thể. Yếu tố "nội lực" quy định tính tích cực tâm lý của chủ thể trong hoạt động là động cơ. Hoạt động có đạt hiệu quả cao hay không, chủ thể có huy động hết nỗ lực, tiềm năng của mình hay không phụ thuộc chủ yếu vào tính chất mạnh hay yếu của động cơ. Thông thường động cơ của hoạt động là tổ hợp của hệ thống động lực thúc đẩy bên trong (nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, tâm thế), trong đó một yếu tố giữ vai trò chủ đạo. Đôi khi có một số hoạt động được thúc đẩy bởi động cơ chỉ do một yếu tố (nhu cầu hoặc hứng thú nào đó), nhưng thường “đem lại kết quả không mong muốn” như F. Ăng Ghen đã từng nhận xét. 
Hoạt động điều tra tội phạm được thực hiện bởi chủ thể trực tiếp là cán bộ điều tra, nhưng mục đích nhận thức về tội phạm đó không phải để “làm phong phú thêm tri thức cho chủ thể” như các dạng nhận thức khác, mà là để Nhà Nước xử lý đúng đắn tội phạm, bảo vệ các lợi ích của Nhà Nước và các công dân, đảm bảo trật tự pháp luật. Cán bộ điều tra thực hiện chức năng nhà nước để nhận thức về vụ án, do đó việc nhận thức này không có yếu tố kích thích về lợi ích trực tiếp đối với cán bộ điều tra. Hơn nữa, nhận thức trong điều tra tội phạm là để làm căn cứ cho Nhà Nước xử lý mối quan hệ hình sự nảy sinh giữa công dân với Nhà Nước, nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp, đến sinh mệnh chính trị của công dân và qua đó ảnh hưởng đến uy tín, sức mạnh của Nhà Nước, do đó phải chính xác và đầy đủ, không được phép sai lầm. Vì vậy, đòi hỏi yếu tố chủ đạo trong động cơ hoạt động của chủ thể phải là tinh thần trách nhiệm và sự giác ngộ lý tưởng đấu tranh chống cái xấu, đem lại công bằng, bình đẳng, an toàn, hạnh phúc cho xã hội. Nếu chủ thể điều tra làm việc đơn thuần chỉ vì công ăn việc làm (làm công ăn lương) hoặc vì hứng thú với cái hấp dẫn bề ngoài của nghề nghiệp, hứng thú thích mạo hiểm… thì hoạt động sớm muộn cũng dẫn đến kết quả không mong muốn.
Động cơ của hoạt động đấu tranh chống tội phạm nói chung, của điều tra nói riêng cũng không thể đơn thuần là một yếu tố riêng rẽ, mà phải là tổ hợp nhiều yếu tố xoay quanh tinh thần trách nhiệm và giác ngộ nghề nghiệp hoặc lý tưởng đấu tranh chống cái xấu. Những yếu tố đó có thể là nhu cầu tự khẳng định, hứng thú hoạt động mạo hiểm, nhu cầu việc làm… Chỉ có một động cơ như vậy mới giúp chủ thể huy động được tối đa nỗ lực tâm lý để tiến hành hoạt động và chống lại được những cám dỗ, vượt qua được những nguy hiểm, thử thách để hoàn thành tốt nhiệm vụ và phát triển được nhân cách của mình. Ở những chủ thể khác nhau thì cấu trúc của động cơ có thể khác nhau về yếu tố chủ đạo, nhưng đều được hiện thực hoá ra bằng mô hình đầy đủ về sự kiện phạm tội cần được làm rõ (mục đích bao trùm - mục đích cuối cùng của hoạt động), nghĩa là mặt hiện thực của động cơ chính là mô hình kết quả cần đạt được của quá trình điều tra.
-  Mục đích của hoạt động
Mục đích bao trùm (động cơ) của hoạt động bao giờ cũng được "chia nhỏ" thành các mục đích của các hành động cụ thể. Các mục đích của điều tra chính là mục đích của các hành động khám nghiệm, hỏi cung, lấy lời khai.v.v.
Để nhận thức được đúng đắn sự kiện phạm tội, cán bộ điều tra phải tiến hành các hành động điều tra cụ thể (khám nghiệm, khám xét, hỏi cung, tổ chức thực nghiệm...) nhằm thu thập thông tin về từng khía cạnh, từng tình tiết của sự kiện phạm tội, trên cơ sở đó liên kết các kết quả nhận thức bộ phận để xây dựng mô hình đầy đủ về toàn bộ sự kiện. Mỗi hành động cụ thể trong điều tra đều nhằm mục đích trực tiếp là thu thông tin để nhận thức về tình tiết cụ thể nào đó, nhận thức về sự kiện từ góc độ, điều kiện cụ thể. Chẳng hạn hỏi cung bị can có mục đích trực tiếp là thu nhận thông tin phản ánh về tội phạm qua lời khai của bị can đó để nhận thức về sự kiện phạm tội từ góc độ thông tin của bị can; lấy lời khai người bị hại là thu thông tin để nhận thức về tội phạm từ góc độ thông tin của người bị hại...Các mục đích trực tiếp của các hành động điều tra là nhằm thu thập thông tin từ các nguồn khác nhau, qua đó nhận thức về tội phạm từ những góc độ cụ thể để cuối cùng có được nhận thức tổng hợp. Kết quả có chính xác, đầy đủ hay không phụ thuộc vào kết quả của từng hành động cụ thể, và kết quả nhận thức ở từng khía cạnh đó lại phụ thuộc rất lớn vào tính chính xác, khách quan của thông tin thu được. Vì vậy, cán bộ điều tra phải luôn quán triệt đặt mục đích thu thông tin lên hàng đầu trong các hành động điều tra cụ thể, không được "thủ tục hoá" bất kỳ hành động điều tra nào.
- Các phương tiện tâm lý cơ bản của hoạt động
Điều tra tội phạm trước hết là hoạt động được thực hiện trong khuôn khổ quy định chặt chẽ của pháp luật hình sự, nhưng cũng là loại hình nhận  thức đặc biệt, được thực hiện bởi những con người cụ thể, muốn nhận thức được đúng đắn về tội phạm thì chủ thể phải có những phương tiện tâm lý phù hợp đó là:
- Tri thức về tội phạm (những hiểu biết về bản chất, nguồn gốc của tội phạm, phương thức, quy luật hành động và che dấu tội phạm) để giúp chủ thể xác định ý nghĩa, yêu cầu của việc đấu tranh phòng, chống tội phạm và định hướng lập kế hoạch thu thập thông tin về tội phạm cụ thể trong hoạt động điều tra.
- Tri thức cơ bản của tâm lý học (bản chất của tâm lý người, các quy luật tâm lý, các phương pháp tác động tâm lý...) để phán đoán hành động của kẻ phạm tội sau khi thực hiện tội phạm và để phân tích tâm lý đối tượng, thực hiện tác động tâm lý trong quá trình điều tra.
- Kinh nghiệm nghề nghiệp (bao gồm cả tri thức lý luận và kinh nghiệm thực tiễn điều tra tội phạm) để xây dựng giả thuyết và tổ chức thực hiện các hành động điều tra cụ thể.
 - Tri thức hệ thống về pháp luật hình sự để sử dụng trong các hành động điều tra và để đảm bảo cho các hành động ấy tuân thủ đúng yêu cầu pháp luật.
- Tri thức cơ bản về các ngành nghề, các lĩnh vực của đời sống xã hội để làm nền thuận lợi cho các giao tiếp và định hướng tìm kiếm thông tin trong quá trình điều tra.
Trong những phương tiện cơ bản đó, tri thức pháp luật hình sự giữ vai trò nền tảng và kinh nghiệm nghề nghiệp là chủ đạo (cốt lõi là tri thức về quy trình, biện pháp điều tra). Hệ thống phương tiện tâm lý này đòi hỏi chủ thể điều tra phải được đào tạo cơ bản.