1. Vị trí của tâm lý học tội phạm trong hệ thống khoa học 

Là một chuyên ngành của khoa học tâm lý, tâm lý học tội phạm có quan hệ chặt chẽ với các ngành tâm lý học khác, nhất là tâm lý học nhân cách, tâm lý học hoạt động, tâm lý học phát triển, tâm lý học xã hội, tâm lý học lứa tuổi... Nó được nghiên cứu, xây dựng dựa trên cơ sở lý luận của các ngành tâm lý học kể trên.

Tâm lý học tội phạm có vị trí quan trọng trong hệ thống các khoa học pháp lý. Nó là một bộ phận cấu thành của tâm lý học pháp lý, nghiên cứu tâm lý của người phạm tội cũng như các vấn đề, các khía cạnh tâm lý nảy sinh trong hoạt động phạm tội nhằm giúp cho hoạt động phòng ngừa, điều tra, xét xử và quản lý, giáo dục người phạm tội. Các tri thức về tâm lý học tội phạm cũng là cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả công tác giáo dục công dân có ý thức thuân thủ pháp luật, đề cao tinh thần cảnh giác và chủ động tham gia vào công tác pòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm, giữ gìn an ninh, trật tự xã hội. 

Tâm lý học tội phạm cũng có mối quan hệ với tội phạm học và khoa học điều tra hình sự. Nó giúp các cán bộ điều tra có thêm căn cứ để áp dụng các phương pháp tác động tâm lý trong qúa trình điều tra vụ án có kết quả. Vì vậy, trong mối quan hệ chung, tâm lý học tội phạm được xác định là một nội dung quan trọng cấu thành tâm lý học pháp lý, một bộ phận không thể thiếu của khoa học điều tra hình sự. Việc nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện lý luận của tâm lý học tội phạm cũng đồng thời là mục tiêu quan trọng của việc xây dựng, bổ sung lý luận   của khoa học điều tra hình sự và khoa học tâm lý học tâm lý pháp lý.

2. Vai trò của tâm lý học tội phạm

Tâm lý học tội phạm có vai trò to lớn đối với công tác phòng chống tội phạm: Những kết quả nghiên cứu các vấn đề, các quy luật tâm lý nảy sinh trong hoạt động phạm tội của tội phạm đã góp phần nâng cao hiệu quả của các mặt hoạt động này. Chẳng hạn, trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ nguyên nhân, điều kiện phạm tội, tâm lý học tội phạm giúp cơ quan có thẩm quyền đưa ra những chủ trương, những biện pháp đúng đắn và có hiệu quả trong việc phòng ngừa tội phạm, loại bỏ những yếu tố là nguyên nhân phát sinh tội phạm. Việc nghiên cứu, làm rõ đặc điểm tâm lý của người phạm tội, những quy luật tâm lý biểu hiện trong hoạt động phạm tội luôn là cơ sở quan trọng cho việc định ra các phương pháp, chiến thuật của hoạt động điều tra, xét xử và quản lý, giáo dục người phạm tội. Lý luận của tâm lý học tội phạm góp phần quan trọng xây dựng, bổ sung lý luận khoa học điều tra hình sự và tâm lý học pháp lý. 

2.1 Phân tích tội phạm 

Lĩnh vực tâm lý tội phạm chủ yếu bao gồm các trường hợp liên kết. Quá trình liên kế trường hợp liên quan đến việc phân tích hành vi của người phạm tội trong một số trường hợp cụ thể (theo báo cáo nạn nhân hoặc phỏng đoán từ hiện trường vụ án) và so sánh dữ liệu với các tội phạm tương tự từ cơ sở dữ liệu. Ví dụ trong những vụ án giết người, nếu các tài liệu được tìm thấy cùng một vũ khí được sử dụng, các mối đe dọa từ người phạm tội là như nhau, các tội phạm được thực hiện ở một vị trí địa lý gần - điều này cho phép cảnh sát điều tra suy đoán rằng có khả năng các vụ án này là do một nhóm người phạm tội thực hiện. 

2.2 Lập hồ sơ phạm tội

Hồ sơ phạm tội đang tạo ra một bức chân dung tâm lý và không chỉ về tâm lý của người phạm tội. Nhà tâm lý học tội phạm sử dụng những thông tin từ hiện trường vụ án để rút ra kết luận về bản chất tâm lý của người đã phạm tội. Các kết luận phải đưa ra câu trả lời cho các câu hỏi, như - có phải tội phạm đã được lên kế hoạch, hay do bốc đồng, trong tình huống cảm xúc mạnh mẽ? độ tuổi gần đúng của người phạm tội là bao nhiêu? người phạm tội có khả năng sống gần với hiện trường tội phạm hay không? Giới tính của người phạm tội là gì? những loại thông ut này trong hầu hết các trường hợp đều rất hữu ích cho các nhà điều tra và giúp các nhà điều tra nhắm mục tiêu hiệu quả.

2.3 Phỏng vấn

Để thu thập thông tin đáng tin cậy và chính xác về vụ việc, việc phỏng vấn nhân chứng hoặc người pahmj tọi là điều quan trọng. Điểm quan trọng nhất về việc phỏng váan họ là xem xét rằng mỗi người cần cách tiếp cận khác nhau - ví dụ, đứa trẻ là nhân chứng của tội phạm có thể cung cấp thông tin rất hữu ích, nhưng vì sự căng thẳng mà một đứa trẻ có thể phải thông qua nhà tâm lý học và rất cẩn thận trong khi phỏng vấn. Một ví dụ  khác có thể là người phạm tội, người không muốn thú nhận. Cảnh sát và nhà tâm lý học tội phạm sử dụng hồ sơ phạm tội của mình để xác định phương pháp tiếp cận chính xác và hiệu quả. Trong nhiều trường hợp cách người phạm tội được phỏng vấn sẽ giúp cảnh sát đạt được lời thú tội từ người phạm tội hay không.

2.3 Phục hồi chức năng của người phạm tội 

Vai trò của nhà tâm lý học tội phạm không chỉ giúp cảnh sát giam giữ ai đó. Ở hầu hết các quốc gia, xã hội và chính phủ lo lắng về khả năng các phạm nhân tái hòa nhập sau khi họ mãn hạn tù. Để đạt được mục tiêu này, các cơ quan có thẩm quyền của chính phủ làm việc với nhà tâm lý học tội phạm và xác định các bước cụ thể có thể được thực hiện để ngăn chặn những người phạm tội phạm tội và mặt khác giúp họ tìm vị trí của họ trong xã hội. 

 3. Nhiệm vụ nghiên cứu của tâm lý học tội phạm 

Nghiên cứu, xác định quy luật hình thành các phẩm chất tâm lý từ đó dẫn tới cá nhân thực hiện hành vi phạm tội, xác định nguyên nhân tâm lý xã hội của tội phạm. Trên cơ sở đó xác định phương hướng phòng ngừa, hạn chế đến mức thấp nhất các hành vi phạm tội, ngăn ngừa tội phạm xảy ra ở từng lĩnh vực cụ thể cũng như ở các giai đoạn khác nhau. 

Nghiên cứu cơ sở tâm lý của các biện pháp phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh chống tội phạm. Trên cơ sở nghiên cứu, nắm vững các quy luật diễn biên tâm lý trước, trong và sau khi phạm tội của người phạm tội sẽ giúp cán bộ điều tra đề ra những chỉ dẫn về phương diện tâm lý phục vụ công tác phòng ngừa, điều tra, khám phá và xử lý tội phạm có kết quả.

- Xây dựng các phương pháp nghiên cứu cụ thể, các phương pháp tác động tâm lý cụ thể phục vụ cho hoạt động phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm. Phát hiện các đặc điểm, quy luật tâm lý của các nhóm người phạm tộ. Phát hiện các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành tâm lý tiêu cực, tâm lý lệch chuẩn từ đó dẫn tới cá nhân thực hiện hành vi phạm tội.

- Hoàn thiện hệ thống lý luận của tâm lý học nói chung, tâm lý học pháp lý và chuyên ngành tâm lý học tội phạm nói riêng, nhằm đáp ứng những yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của hoạt động bảo vệ pháp luật. Từ đó bổ sung, làm rõ các khái niệm: nhân cách hành vi, hoạt động, giao tiếp, cơ chế tâm lý... cũng như các phương pháp nghiên cứu tâm lý cá nhân, tâm lý nhóm, tâm lý nhóm phạm ội. Từ đó, góp phần làm phong phú nội dung, phương pháp của tâm lý học tội phạm, tâm lý hoạt dộngđiều tra tội phạm, tâm lý hoạt động trinh sát, tâm lý quản lý giáo dục phạm nhân, trại viên, học sinh trường giáo dưỡng...

4. Nguyên tắc 

4.1 Nguyên tắc khách quan 

Khi nghiên cứu các hiện tượng tâm lý người nói chung và người phạm tội nói riêng phải xuất phát từ chính bản thân sự vật hiện tượng và không suy luận theo ý thức chủ quan của cán bộ nghiên cứu, không áp đặt ý nghĩ, định hướng của nhà nghiên cứu vào sự diễn biến hoặc kết quả nghiên cứu các hiện tượng tâm lý. Ngay cả khi cán bộ nghiên cứu các hiện hượng tâm lý. Ngay cả khi cá bộ nghiên cứu dùng lý luận, tri thức và vốn kinh nghiệm chuyên môn của mình phân ítch, xử lý thông tin thu thập được trong khi nghiên cứu các hiện tượng tâm lý của người phạm tội cũng đòi hỏi một cách khách quan để xử lý, tìm quy luật, như vốn quy luật, tự nó diễn ra.

4.2  Nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng 

Khi nghiên cứu sự phát sinh, tồn tại và phát triển các hiện tượng tâm lý người phạm tội đều do hiện thực khách quan quy định.Tồn tại xã hội khách quan, không phụ thuộc vào ý thức cán bộ nghiên cứu, đó là nội dung tâm lý, là cội nguồn của tâm lý người phạm tội, chủ thể phạm tội mà cán bộ nghiên cứu phục vụ hoạt động công tác nói riêng.

4.3 Nguyên tắc thống nhất tâm lý người phạm tội với hoạt động của họ

Nội dung của nguyên tắc này nói lên tính đồng nhất tâm lý, ý thức người phạm tội với chính hoạt động của họ, Hoạt động của người phạm tội biểu hiện đầy đủ nhất thế giới nội tâm của người phạm tội. Trong một giai đoạn, mỗi tình huống cụ thể có thể hoạt động, tâm lý và ý thức người phạm tội có thể không đồng nhất, nhưng đó là sự cố ý, người phạm tội đang ý thức che dấu bản chất bên trong, do vậy, trước sau bản chất thực sẽ được bộc lộ do tính thống nhất của nó. Do vậy, khi nghiên cứu tâm lý người phạm tội, cần nghiên cứu tâm lý, ý thức gắn với hoạt động của chính họ.

4.4 Nguyên tắc lịch sử cụ thể

Mỗi một giai đoạn, thời kỳ lịch sử luôn có đặc điểm tâm lý phạm tội riêng, tâm lý của người phạm tội với tất cả mặt tích cực và mặt tiêu cực cũng có sự vận động, thay đổi. Vì vậy, nghiên cứu tâm lý của cá nhân người phạm tội cũng như tâm lý của nhóm phạm tội phải gắn với điều kiện lịch sử cụ thể chứ không nghiên cứu tâm lý một cách chung chung ở một con người trừu tượng, một cộng đồng trừu tượng, trácnh dập khuôn, cứng nhắc, định kiến khi nghiên cứu tâm lý người phạm tội và tâm lý tội phạm.

4.5 Nghiên cứu các hiện tượng tâm lý trong sự vận động và phát triển

Mỗi hiện tượng tâm lý người phạm tội, tâm lý phạm tội đều có quá trình nảy sinh, tồn tại, vận động và phát triển. Vì vậy, nghiên cứu tâm lý của họ phải đặt trong mối quan hệ vận động, phát triển của họ. Khi nghiên cứu tâm lý tội phạm, nhân cách người phạm tội phải thấy được sự biên đổi của tâm lý chủ thể phạm tội. Không nên có định kiến về bất kỳ những hiện tượng tâm lý tiêu cực nào của nhóm người phạm tội, cá nhân một người phạm tội.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê