Mong nhân được câu trả lời sớm từ luật sư. Xin chân thành cảm ơn !

Người gửi: B.S.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật lao động của công ty luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn luật lao động gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào Bác! cảm ơn bác đã gửi thắc mắc của mình tới công ty tư vấn luật Minh Khuê căn cứ những thông tin mà bác cung cấp luật sư xin tư vấn cho bác như sau.

Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật lao động số 10/2012/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012.

Về vấn đề đơn phương chấm dứt hợp đồng của người sử dụng lao động được quy định tại điều 38 luật lao động năm 2013 như sau. 

"Điều 38: quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động  của người sử dụng lao động.

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng."

"Điều 40: Hủy bỏ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

Mỗi bên đều có quyền huỷ bỏ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước khi hết thời hạn báo trước nhưng phải thông báo bằng văn bản và phải được bên kia đồng ý." 

"Điều 41: Đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật.

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 37, 38 và 39 của Bộ luật này."

- Vậy tại điều 38 luật lao động năm 2013 quy định rõ về trường hợp người sử dụng lao đông chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp với người lao động, vì thế việc công ty của con bác chấm dứt hợp đồng không rõ nguyên nhân với con bác là hoàn toàn trái pháp luật. Vậy việc sử lý đối với người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật được quy định tại điều 42 như sau:

"Điều 42: Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước."

- Vậy với trường hợp của con bác khi công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của anh tại công ty thì

Hình thức thứ nhất công ty phải nhân con bác quay lại công ty làm việc theo hợp đồng lao động và phải có nghĩa vụ trả lương, bảo hiểm... cho anh trong khoảng thời gian bị ngừng việc tại công ty và đồng thời phải trả ít nhất 2 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Hình thức thứ hai: Nếu công ty không muốn nhận lại người lao động thì ngoài việc bồi thường như đã nêu ở hình thức thứ nhất thì công ty còn phải bồi thường thêm cho anh khoản trợ cấp thôi việc bằng khoản thời gian anh trực tiếp làm việc tại công ty trừ đi thời gian anh tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại điều 48 của luật bảo hiểm xã hội năm 2013.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về thắc mắc của anh, cảm ơn bác đã tin tưởng công ty Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ