1. Chánh quan lang là gì ?

Chánh quan lang là chức danh người đứng đầu bộ máy cai trị người dân tộc thiểu số của chính quyền thực dân Pháp, người đứng đầu tỉnh Hoà Bình được lập từ năm 1919.

Chánh quan lang tương đương với chức tuần phủ hạng nhì và thuộc công sứ Pháp.

2. Bối cảnh Việt Nam ở cuối thế kỷ XIX

Năm 1858, liên quân Pháp và Tây Ban Nha đổ bộ vào cảng Đà Nẵng và tiếp đó xâm chiếm Sài Gòn. Quân Pháp sau đó mở rộng chiến tranh xâm lược ra toàn miền Nam Việt Nam. Năm 1862 vua Tự Đức ký hiệp ước nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp. Năm 1867, Pháp chiếm nốt ba tỉnh Miền Tây kế tiếp để tạo thành một lãnh thổ thuộc địa Cochinchine (Nam Kỳ) ở Nam Kỳ lục tỉnh. Từ năm 1873 đến năm 1886, Pháp xâm chiếm nốt những phần còn lại của Việt Nam qua những cuộc chiến phức tạp ở miền Bắc Kỳ.

Sau khi đánh chiếm được nước ta, thực dân Pháp từng bước thiết lập bộ máy thống trị thực dân ở Việt Nam.

- Về chính trị, chúng tiếp tục thi hành chính sách chuyên chế với bộ máy đàn áp nặng nề. Mọi quyền hành đều thâu tóm trong tay các viên quan cai trị người Pháp, từ Toàn quyền Đông Dương, Thống đốc Nam Kỳ, Khâm sứ Trung Kỳ, Thống sứ Bắc Kỳ, công sứ các tỉnh, đến các bộ máy quân đội, cảnh sát, toà án...; biến vua quan Nam triều thành bù nhìn, tay sai. Chúng bóp nghẹt tự do, dân chủ, thẳng tay đàn áp, khủng bố, dìm các cuộc đấu tranh của dân ta trong biển máu. Với mưu đồ nham hiểm, thực dân Pháp thực hiện chính sách “chia để trị” và “dùng người Việt trị người Việt”, chia nước ta làm ba kỳ, mỗi kỳ đặt một chế độ cai trị riêng và nhập ba kỳ đó với nước Lào và nước Campuchia để lập ra Liên bang Đông Dương thuộc Pháp, xóa tên nước ta trên bản đồ thế giới. Chúng gây chia rẽ và thù hận giữa Bắc, Trung, Nam, giữa các tôn giáo, các dân tộc, các địa phương, thậm chí là giữa các dòng họ; giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc trên bán đảo Đông Dương.

- Về văn hoá-giáo dục, thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân về mặt giáo dục, đầu độc về mặt văn hoá là một trong những biện pháp cai trị của bộ máy thống trị thực dân. Thực dân Pháp hạn chế đến mức tối đa việc phát triển giáo dục, kìm hãm nhân dân Việt Nam trong vòng ngu dốt. Đồng thời chúng đẩy mạnh tuyên truyền ca ngợi chính sách "khai hoá” của nhà nước "bảo hộ", du nhập văn hoá đồi trụy, khuyến khích những tệ nạn cờ bạc, rượu chè, nghiện hút...

- Về quân sự, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp các phong trào và hành động yêu nước của nhân dân ta, triệt để thực hiện chính sách "dùng người Việt trị người Việt", ra đạo luật về tổ chức quân đội thuộc địa bao gồm vừa binh lính Pháp, vừa binh lính người bản xứ. Xây dựng nhà tù nhiều hơn trường học.

>> Xem thêm:  Cách phân loại tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự ?

- Về kinh tế, sau khi hoàn thành cơ bản công cuộc “bình định” bằng quân sự, thực dân Pháp câu kết với giai cấp địa chủ thực hiện chính sách bóc lột về kinh tế như: tiến hành cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền (đồn điền cao su, cà phê, chè…); đầu tư khai thác tài nguyên như khai thác mỏ (chủ yếu là than, sắt, thiếc, vàng…), xây dựng một số cơ sở công nghiệp nhẹ; xây dựng hệ thống đường giao thông, bến cảng; độc quyền ngoại thương…nhằm phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa của chúng.

Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã tạo nên sự chuyển biến của nền kinh tế Việt Nam, nhưng cũng dẫn đến hậu quả là nền kinh tế Việt Nam bị lệ thuộc vào tư bản Pháp, bị kìm hãm trong vòng lạc hậu.

Trong xã hội Việt Nam nổi lên hai mâu thuẫn cơ bản. Mâu thuẫn cơ bản thứ nhất đồng thời là mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam (nông dân, công nhân, một bộ phận tri thức phong kiến yêu nước, tiểu tư sản, địa chủ vừa và nhỏ v.v…) với thực dân Pháp ngày càng sâu sắc, trở thành mâu thuẫn chủ yếu nhất. Mâu thuẫn cơ bản thứ hai giữa nhân dân Việt Nam, đa số là nông dân với địa chủ phong kiến. Hai mâu thuẫn này gắn bó, tác động lẫn nhau đòi hỏi đồng thời giải quyết. Độc lập dân tộc và người cày có ruộng là hai yêu cầu cơ bản của xã hội Việt Nam nhưng độc lập dân tộc là yêu cầu cơ bản, chủ yếu nhất vì phản ánh nguyện vọng bức thiết của cả dân tộc Việt Nam.

3. Bối cảnh Hòa Bình ở cuối thế kỷ XIX

Ở Hòa Bình, trước khi thực dân Pháp xâm lược, vùng Mường Hoà Bình về chế độ chính trị xã hội M­­ường cổ là sự tồn tại của chế độ lang đạo, độc lập và lệ thuộc vào triều đình phong kiến Trung ương. Uy quyền của lang không khác gì vua chúa ở địa ph­ương. Dưới chế độ của nhà lang quyền sống của người dân Mường bị chà đạp, ngay đến tính mạng cũng do lang quyết định, lang cho sống được sống, bảo chết phải chết, nên người Mường xưa có câu: “Nhỏ là con Bố con Mế, lớn là con Cun con lang”. D­ưới chế độ lang, ng­ười dân chỉ là nô lệ và bị lang sai khiến bóc lột.

Lợi dụng những đặc điểm ấy, năm 1884, sau khi thực dân Pháp chính thức đặt ách đô hộ lên tỉnh Hòa Bình, chúng đã khoét sâu vào vấn đề dân tộc, triệt để sử dụng duy trì chế độ lang đạo ở Hòa Bình.

Thực hiện chính sách chia rẽ dân tộc của thực dân Pháp, năm 1886, Toàn quyền Đông Dương ra quyết định thành lập tỉnh Mường bao gồm những địa hạt mà dân cư phần đông là người Mường tại các tỉnh: Hưng Hóa, Sơn Tây, Hà Nội, Ninh Bình. Tỉnh lỵ tỉnh Mường đặt tại chợ Bờ thuộc châu Đà Bắc (vốn là đất của tỉnh Hưng Hóa trước đó) trên bờ sông Đà. Vào các năm tiếp theo, tỉnh lỵ có những thay đổi như chuyển về xã Phương Lâm (vốn thuộc phủ Quốc Oai) và được gọi là tỉnh Phương Lâm. Ngày 5/9/1896, tỉnh lỵ Phương Lâm được chuyển đóng tại làng Vĩnh Diệu, xã Hòa Bình, phía tả ngạn sông Đà. Từ đó, tỉnh Phương Lâm được gọi là tỉnh Hòa Bình.

Về bộ máy cai trị tỉnh Hòa Bình, Pháp duy trì chế độ lang đạo làm cơ sở xã hội cho chính sách cai trị của chúng, đứng đầu là một công sứ người Pháp, dưới công sứ có phó công sứ và một văn phòng giúp việc. Bên cạnh bộ máy cai trị chỉ huy của người Pháp có một bộ máy thừa hành người bản địa như: chánh quan lang, phó quan lang và một số quan lại giúp việc. (Từ năm 1886-1933, Hòa Bình trải qua 14 đời công sứ).

Thực hiện chính sách chia để trị “dùng thổ lang, trị thổ dân”, bộ máy hành chính ổn định từ tỉnh, huyện đến xã, thôn, bản được thiết lập, thực dân Pháp đã ra sức vơ vét sản vật, bóc lột sức dân. Không những dùng quân sự mà chúng còn tăng cường các thủ đoạn chính trị, tuyên truyền, kích động chia rẽ, gây thù hằn dân tộc để dễ bề cai trị. Thực dân Pháp lợi dụng bọn phản động, tay sai lập ra xứ Mường, xứ Thái tự trị theo chiêu bài giả hiệu. Chúng xây dựng những đội quân riêng người Thái, riêng người Mường, đầu độc họ bằng ý thức dân tộc hẹp hòi, biến họ thành công cụ chống các dân tộc anh em, gây thù hận, nhen nhóm ngọn lửa chiến tranh giữa các dân tộc để chúng dễ bề lợi dụng, khống chế, đàn áp.

>> Xem thêm:  Tội phạm kết thúc là gì ? Dấu hiệu nhận biết tội phạm kết thúc? Phân biệt giữa tội phạm hoàn thành và tội phạm kết thúc?

4. Bộ máy tầng lớp ở Hòa Bình

Dưới hai tầng áp bức của chủ nghĩa tư bản và chế độ quan lang, xã hội Hòa Bình phân hóa thành hai tầng lớp: tầng lớp quan lang được thực dân Pháp đưa vào hệ thống chính quyền từ cấp tỉnh đến làng xã và tầng lớp dân bản đông đảo không có ruộng đất, phải lao động không công cho quan lang và phải gánh chịu chế độ phu phen, tạp dịch hết sức nặng nề...

Phong trào chống Pháp của nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình trong những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trong các phong trào đánh Pháp, ủng hộ phong trào Cần Vương, nhân dân Hòa Bình đã góp phần to lớn của mình vào phong trào chung của cả nước.

Cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp diễn ra quyết liệt, liên tục suốt cả dải núi rừng từ Mai Châu, Đà Bắc đến Yên Thủy. Ở vùng Lạc Thủy có cuộc kháng chiến do Đốc Tam chỉ huy đã gây cho quân xâm lược những tổn thất nặng nề, trận đánh tại chợ Đập là một chiến công oanh liệt, tên quan hai Phôgie (Faugire) và đạo quân do hắn chỉ huy đã phải vùi xác tại đây. Tại vùng Kỳ Sơn, Lương Sơn có cuộc chiến đấu của Đinh Công Uy, lợi dụng địa thế núi rừng, bằng lối đánh du kích, nghĩa quân do ông chỉ huy đã gây cho giặc Pháp nhiều tổn thất, như các trận ở Phương Lâm, Mông Hóa, Dốc Kẽm... Trong hơn ba năm từ 1889 đến 1892, cả dải sông Đà từ Mai Châu, Đà Bắc, Kỳ Sơn, Lương Sơn... là địa bàn hoạt động của nghĩa quân do Đốc Ngữ chỉ huy, một bộ phận quan trọng của cuộc kháng chiến Cần Vương tại vùng Tây Bắc do các nhà nho yêu nước lãnh đạo. Được nhân dân các dân tộc Mường, Dao, Thái... ủng hộ, nghĩa quân Đốc Ngữ đã gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề. Táo bạo và vang dội là trận tập kích vào tỉnh lỵ Chợ Bờ ngày 30 tháng 01 năm 1891, giết tên phó sứ Rugiơri (Rougery) làm chủ tỉnh lỵ, thực dân Pháp phải đưa hàng trung đoàn lính viễn chinh lên đối phó.

5. Cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Cánh quan lang năm 1909-1910

Vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, huyện Kỳ Sơn là một trong 4 châu thuộc tỉnh Hòa Bình. Ở thời điểm này, tại châu Kỳ Sơn, Đinh Công Uy, tục gọi là Chánh Huy quan lang Mông Hóa “Sau đó, năm 1894, Đinh Công Uy trở thành châu ủy và năm 1898 trở thành tri châu ở Kỳ Sơn”[1]. (Đinh Công Huy đã từng lãnh đạo 300 người Mường đứng lên khởi nghĩa chống Pháp từ năm 1889 đến 1903).

“Ngày 18-11-1903, Đinh Công Uy bị kết án 20 năm khổ sai vì tội giết người và bị đầy ra Côn Đảo. Hai năm sau, ngày 11-5-1905, Uy chết” [2]. Sau khi Đinh Công Uy chết, theo tục của người Mường thì chức quan lang Mông Hóa sau phải được truyền cho con cháu, nhưng vì Đinh Công Uy bị Pháp kết tội nên bị tước quyền thế tập. Đinh Công Nhung một quan lang tay sai của pháp là người xã Vĩnh Đồng đã dựa vào Pháp để tranh chức quan lang của dòng họ Đinh Công Uy ở Mông Hóa. Sau đó Đinh Công Nhung được Pháp đưa lên làm chánh quan lang ở Hòa Bình.

Từ khi làm chánh quan lang Hòa Bình, nhờ sự hậu thuẫn của Pháp “Quan lang Đinh Công Nhung đã ức hiếp nhân dân, gây nhiều sự khổ hại hơn các quan Lang trước”. Trong bức thư đề ngày 18 tháng 8 năm 1909 của Tổng Kiêm (Tên thật là Nguyễn Văn Kiêm, người xóm Đễnh, Mông Hóa) gửi Quan Hai Pháp, đã tố cáo như sau: "Tại ông Chánh Lang Đinh Công Nhung ăn hết đất chúng tôi, mà lại nhũng nhiễu dân tình lắm lắm, chúng tôi thiết tưởng công việc nhà nước đã nhiều, lại công việc nhà ông ấy, thời dân sự chúng tôi có một cổ hai chòng, nên chúng tôi phải giả ông ấy lại nhà nước".

>> Xem thêm:  Nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hình sự là gì ?

Bên cạnh nhũng nhiễu dân chúng, Đinh Công Nhung còn trắng trợn cướp 8 mẫu đất công. Bất bình trước việc làm sai trái của Đinh Công Nhung, nhân dân Mông Hóa do Tổng Kiêm và Đốc Bang đứng đầu lại đệ đơn kiện lên Tòa sứ Hòa Bình, Tòa sứ Hòa Bình không xét đơn kiện “Tháng 3 năm 1909, lời than phiền của các chức sắc ở Mông Hóa đối với quan lang của họ là Đinh Công Nhung chẳng đem lại kết quả gì ở Hòa Bình, đã được trình lên phủ toàn quyền”[5].

Được nhà cầm quyền Pháp che chở, không xử phạt nên Đinh Công Nhung càng ngạo nghễ và hung hăng quay lại khủng bố dân làng, tìm bắt Tổng Kiêm và Đốc Bang. Không bắt được hai người, Đinh Công nhung sai "bắt cả người nhà, đầy tớ, trâu ngựa"[6] của họ, trong đó có cả phụ thân của Đốc Bang trói vào bè cho trôi sông đến chết. Không còn cách nào khác, nhân dân phải đứng lên khởi nghĩa để giải phóng cho mình. "Chúng tôi về Hà Nội làm đơn kêu với quan Thống sứ, thời ông ấy nhiều tiền bạc lễ quan Chánh sứ mấy thầy Phán Quế, cứ bẩm sự tốt cho ông ấy, thời chúng tôi thế ức không biết kêu vào đâu được nên chúng tôi phải mang đầy tớ lên đánh lấy người nhà về…”.

Sự bóc lột tàn bạo của quan lang Đinh Công Nhung đã làm bùng lên nỗi căm hờn trong đồng bào Mường ở Mông Hóa. Dưới sự tổ chức và lãnh đạo của Tổng Kiêm và Đốc Bang một cuộc khởi nghĩa đã manh nha khởi phát chống lại bọn quan lang và thực dân Pháp.

Tổng Kiêm và Đốc Bang đã bí mật tiến hành vận động, tuyên truyền nhân dân Mông Hóa ủng hộ hai ông để đứng lên đánh đuổi thực dân và phong kiến lang đạo. Đến đầu tháng 4 năm 1909, số người ủng hộ và quyết tâm theo hai ông đứng lên chống Pháp đã lên tới 41 người.

Trân trọng!

Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)

>> Xem thêm:  Khái niệm tội phạm ? Ý nghĩa và dấu hiệu cơ bản nhận biết tội phạm ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Hãy nêu khái niệm chánh quan lang?

Trả lời:

Chánh quan lang là chức danh người đứng đầu bộ máy cai trị người dân tộc thiểu số của chính quyền thực dân Pháp, người đứng đầu tỉnh Hoà Bình được lập từ năm 1919.

Câu hỏi: Chánh quan lang tương đương với chức trách gì?

Trả lời:

Chánh quan lang tương đương với chức tuần phủ hạng nhì và thuộc công sứ Pháp.

 

Câu hỏi: Về bộ máy cai trị tỉnh Hòa Bình ở cuối thế kỷ XIX như thế nào?

Trả lời:

Về bộ máy cai trị tỉnh Hòa Bình, Pháp duy trì chế độ lang đạo làm cơ sở xã hội cho chính sách cai trị của chúng, đứng đầu là một công sứ người Pháp, dưới công sứ có phó công sứ và một văn phòng giúp việc. Bên cạnh bộ máy cai trị chỉ huy của người Pháp có một bộ máy thừa hành người bản địa như: chánh quan lang, phó quan lang và một số quan lại giúp việc. (Từ năm 1886-1933, Hòa Bình trải qua 14 đời công sứ).