1. Các nhóm chức danh, chức vụ lãnh đạo và tương đương của hệ thống chính trị 

Theo kết luận của Bộ Chính trị, chức danh, chức vụ lãnh đạo và tương đương của hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở có 3 nhóm.

(1) Nhóm thứ nhất bao gồm các chức danh và chức vụ lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc. Đây bao gồm Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Quốc hội - tức là bốn chức danh chủ chốt trong hệ thống lãnh đạo.

Lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc cũng thuộc vào nhóm này, bao gồm Thường trực Ban Bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, các Phó Chủ tịch nước, Phó Thủ tướng và Phó Chủ tịch Quốc hội.

(2) Nhóm thứ hai gồm các chức danh và vị trí lãnh đạo ở cấp Bộ Chính trị và Ban Bí thư quản lý. Các chức danh và vị trí thuộc diện Bộ Chính trị quản lý được chia thành ba bậc.

- Bậc 1 bao gồm: Ủy viên Trung ương chính thức (Ủy viên Trung ương dự khuyết đang đảm nhiệm vị trí công tác nào thì được xác định vị trí thứ bậc và hưởng các chế độ, chính sách theo chức vụ đang công tác), Trưởng ban Đảng ở cấp Trung ương, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản, và Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Bậc 2 bao gồm: Bộ trưởng và thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Tổng Kiểm toán Nhà nước, Trưởng tổ chức chính trị - xã hội ở cấp Trung ương, Phó Chủ tịch - Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy khối trực thuộc Trung ương, Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội, Phó Bí thư Thành ủy TP.HCM, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội, TP.HCM, và Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

- Bậc 3 bao gồm: Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học công nghệ Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Tổng Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam, Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam.

Các chức danh do Ban Bí thư quản lý cũng được chia thành ba bậc:

- Bậc 1 bao gồm: Phó trưởng ban, cơ quan Đảng ở cấp Trung ương, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Phó Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Phó Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Phó Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao.

- Bậc 2 bao gồm: Thứ trưởng và phó thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Phó Tổng kiểm toán Nhà nước, Phó trưởng tổ chức chính trị - xã hội ở cấp Trung ương, Bí thư thường trực Trung ương Đoàn, Phó Bí thư tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy khối trực thuộc Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Giám đốc Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Chủ tịch các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở cấp Trung ương, Trợ lý các lãnh đạo quan trọng của Đảng, Nhà nước, Trợ lý Thường trực Ban Bí thư.

- Bậc 3 bao gồm: Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, Giám đốc Đại học Quốc gia TP.HCM, Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Trưởng Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Ủy ban giám sát tài chính quốc gia, Phó Chủ tịch Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Tối cao.

(3) Nhóm thứ ba bao gồm các chức danh và vị trí lãnh đạo thuộc diện cấp ủy, tổ chức Đảng và quản lý cơ quan, đơn vị. Nhóm này được phân thành các cấp sau: Tổng cục trưởng và các tương đương; Phó Tổng cục trưởng và các tương đương; Vụ trưởng và các tương đương; Phó Vụ trưởng và các tương đương; Trưởng phòng và các tương đương; Phó trưởng phòng và các tương đương; cán bộ ở cấp xã, phường, thị trấn.

Bộ Chính trị đã đề ra yêu cầu cho các cấp ủy, tổ chức Đảng, cơ quan, và đơn vị thuộc Trung ương để thực hiện Kết luận này một cách quyết liệt. Họ phải chịu trách nhiệm tiếp tục xem xét và sắp xếp các chức danh và vị trí lãnh đạo theo phân cấp quản lý, đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất với danh mục được Bộ Chính trị công bố. Đồng thời, họ cũng cần đảm bảo sự kế thừa và ổn định trong tổ chức bộ máy, chỉ điều chỉnh khi cần thiết để loại bỏ các vị trí không hợp lý hoặc chưa được sắp xếp. Nếu một người đảm nhiệm nhiều chức vụ, thì sẽ xác định chức vụ cao nhất để xác định chức danh lãnh đạo.

Hơn nữa, Quân ủy Trung ương và Đảng ủy Công an Trung ương sẽ phát triển một danh mục chức danh và vị trí lãnh đạo, quản lý và chỉ huy trong Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Điều này nhằm đảm bảo đáp ứng đúng yêu cầu và nhiệm vụ của Quân đội và Công an, cũng như đồng bộ hóa và thống nhất với các chức danh và vị trí lãnh đạo tương đương trong hệ thống chính trị. Ban Tổ chức Trung ương sẽ hợp tác với các cơ quan có liên quan để thẩm định và đưa nội dung này trình Bộ Chính trị xem xét và quyết định.

Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ và các cơ quan có liên quan sẽ phát triển và hoàn thiện hệ thống luật pháp và chính sách về vị trí công tác, số lượng chức danh và vị trí lãnh đạo, cũng như bảng lương chức vụ. Điều này sẽ đảm bảo tính đồng bộ với danh mục chức danh, chức vụ lãnh đạo và tương đương trong hệ thống chính trị mà Bộ Chính trị đã ban hành.

 

2. Tiêu chuẩn với 04 chức danh chủ chốt thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam

Bên cạnh việc tuân thủ đầy đủ các tiêu chuẩn chung của Ủy viên Bộ Chính trị và Ban Bí thư, cần thiết phải đảm bảo rằng bốn chức danh chủ chốt (Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội) cũng đáp ứng đủ các tiêu chuẩn sau:

(1) Tổng Bí thư

- Phải được coi là một cá nhân có uy tín vô cùng cao không chỉ trong Trung ương và Bộ Chính trị, mà còn trong toàn bộ Đảng.

- Phải đóng vai trò trung tâm trong việc thúc đẩy sự đoàn kết và tận dụng tối đa sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, cả Đảng, và toàn dân, đồng thời khai thác triệt hạng sức mạnh thời đại để đạt được hai mục tiêu chiến lược quan trọng: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cũng như thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh."

- Phải được coi là tấm gương về đạo đức và trí tuệ không chỉ trong Đảng mà trong toàn Đảng. Phải có kiến thức rộng lớn và sâu sắc trong nhiều lĩnh vực, bao gồm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, và nhiều lĩnh vực khác.

- Phải có năng lực chính trị, khả năng nghiên cứu, phát triển ý tưởng và chiến lược mới, và sẵn sàng đưa ra quyết định quan trọng liên quan đến vận mệnh của Đảng, quốc gia và nhân dân.

- Phải có khả năng lãnh đạo và quản lý xuất sắc trong việc điều hành Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư. Đồng thời, phải có khả năng tạo ra và phát triển đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đặc biệt là người kế nhiệm.

- Phải có kinh nghiệm thực hiện nhiệm vụ một cách xuất sắc trong chức vụ bí thư tỉnh ủy, thành ủy hoặc trưởng ban, bộ, ngành Trung ương, và phải tham gia vào Bộ Chính trị trong ít nhất một nhiệm kỳ (ngoại trường hợp đặc biệt do Ban Chấp hành Trung ương quyết định).

(2) Chủ tịch nước

- Phải là một cá nhân có uy tín vô cùng cao, là điểm mấu chốt trong việc đoàn kết Trung ương, Bộ Chính trị, và toàn Đảng.

- Phải có năng lực xuất sắc và toàn diện trong mọi khía cạnh của công việc, đặc biệt là trong các lĩnh vực đối nội, đối ngoại, an ninh, và quốc phòng. Đồng thời, cần có kiến thức sâu rộng về công tác tư pháp.

- Phải đóng vai trò trung tâm trong việc đoàn kết các lực lượng xã hội và các cộng đồng dân tộc cả trong và ngoài nước.

- Cần phải thể hiện sự quyết liệt trong việc lãnh đạo và điều hành theo chức năng, nhiệm vụ, và quyền hạn được giao.

- Phải có kinh nghiệm và thực hiện nhiệm vụ một cách xuất sắc trong chức danh bí thư tỉnh ủy, thành ủy, hoặc trưởng ban, bộ, ngành Trung ương, và tham gia vào Bộ Chính trị trong ít nhất một nhiệm kỳ (ngoại trường hợp đặc biệt do Ban Chấp hành Trung ương quyết định).

(3) Thủ tướng Chính phủ

- Phải là một cá nhân với uy tín vô cùng cao, là trung tâm quan trọng trong việc đoàn kết Trung ương, Bộ Chính trị và toàn Đảng.

- Cần có năng lực xuất sắc trong việc hoạch định chiến lược; phải có quyết đoán, kiên quyết và thời gian để đưa ra quyết định về các vấn đề phức tạp và khó khăn liên quan đến lĩnh vực hành pháp.

- Phải hiểu sâu rộng về cơ cấu hành chính quốc gia, tình hình kinh tế - xã hội của đất nước, cũng như về kinh tế, chính trị quốc tế và quá trình hội nhập quốc tế.

- Phải có khả năng toàn diện trong việc tổ chức, quản lý, chỉ đạo, và điều hành các cơ quan hành chính của nhà nước.

- Cần phải có khả năng cụ thể hóa và thực hiện hiệu quả các chính sách và quyết định của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

- Phải có kinh nghiệm và đã hoàn thành một cách xuất sắc nhiệm vụ trong chức vụ bí thư tỉnh ủy, thành ủy hoặc làm trưởng ban, bộ, hoặc ngành Trung ương; và cần phải đã tham gia vào Bộ Chính trị ít nhất một nhiệm kỳ (ngoại trường hợp đặc biệt do Ban Chấp hành Trung ương quyết định).

(4) Chủ tịch Quốc hội

- Cần phải là một cá nhân có uy tín vô cùng cao, và phải đóng vai trò quan trọng trong việc đoàn kết Trung ương, Bộ Chính trị và toàn Đảng.

- Phải thể hiện sự quyết liệt trong việc lãnh đạo và điều hành theo chức năng, nhiệm vụ, và quyền hạn được giao.

- Cần phải có năng lực xuất sắc và toàn diện trong nhiều lĩnh vực công tác, đặc biệt là trong việc chỉ đạo quá trình hóa đường lối, chủ trương, và nghị quyết của Đảng về xây dựng pháp luật, giám sát thực thi pháp luật, và đưa ra quyết định về các vấn đề quan trọng của đất nước. Điều này cần phải đảm bảo quyền dân chủ, công bằng, công khai, minh bạch, và phải đại diện cho ý chí và nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân, bảo đảm quyền lực Nhà nước nằm trong tay nhân dân.

- Cần phải có hiểu biết sâu rộng về hệ thống pháp luật của Việt Nam, cũng như về pháp luật và quy định quốc tế.

- Cần phải có khả năng điều hành các phiên họp của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội một cách chất lượng và hiệu quả.

- Cần phải có kinh nghiệm và đã hoàn thành một cách xuất sắc nhiệm vụ trong chức danh bí thư tỉnh ủy, thành ủy, hoặc trưởng ban, bộ, hoặc ngành Trung ương, và cần phải đã tham gia vào Bộ Chính trị trong ít nhất một nhiệm kỳ (ngoại trường hợp đặc biệt do Ban Chấp hành Trung ương quyết định).

 

3. Trong bốn chức danh lãnh đạo chủ chốt ai là người quyền lực nhất?

Mỗi chức danh trong bốn chức danh lãnh đạo chủ chốt đều đóng góp một vai trò và quyền lực riêng biệt, và không thể xác định một cách tuyệt đối ai có quyền lực hơn ai.

Tuy nhiên, việc xác định chức danh nào đang thực sự nắm giữ quyền lực phụ thuộc vào một loạt các yếu tố, chẳng hạn như mức độ ủng hộ từ phía Đảng, sự đồng thuận của dư luận, và sự phổ biến của các chính sách cụ thể. Thêm vào đó, việc xác định ai trong bốn chức danh này đang có quyền lực lớn nhất còn phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau, bao gồm thời điểm cụ thể, tình hình chính trị và kinh tế của quốc gia, và cả mức độ ủng hộ từ cộng đồng quốc tế.

Bài viết liên quan: Tứ trụ Việt Nam: 4 chức danh lãnh đạo chủ chốt ai quyền lực nhất?

Mọi thắc mắc có liên quan đến mặt pháp lý, mời quý khách hàng liên hệ số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!