1. Chào hàng là gì ?

Khái niệm về chào hàng được quy định tại Điều 14 Công ước Viên 1980, theo đó: Chào hàng là đề nghị rõ ràng về việc kí hợp đồng của một người gửi cho một hay nhiều người xác định để bày tỏ ý định muốn bán hoặc muốn mua hàng hóa theo những điều kiện cụ thể mà việc chấp nhận đề nghị này của bên được đề nghị sẽ hình thành quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa. Trong đó, người đề nghị bày tỏ ý chí sẽ bị ràng buộc bởi lời đề nghị của mình nếu có sự chấp nhận đề nghị đó.

Căn cứ Điều 14 Công ước Viên năm 1980 quy định như sau về chào hàng trong thương mại quốc tế

1. Một đề nghị ký kết hợp đồng gửi cho một hay nhiều người xác định được coi là một chào hàng nếu có đủ chính xác và nếu nó chỉ rõ ý chí của người chào hàng muốn tự ràng buộc mình trong trường hợp có sự chấp nhận chào hàng đó. Một đề nghị là đủ chính xác khi nó nêu rõ hàng hóa và ấn định số lượng về giá cả một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc quy định thể thức xác định những yếu tố này.

2. Một đề nghị gửi cho những người không xác định chỉ được coi là một lời mời làm chào hàng, trừ phi người đề nghị đã phát biểu rõ ràng điều trái lại”

Tính rõ ràng về nội dung của hợp đồng được Công ước quy định tại khoản 1 Điều 14 theo đó, đề nghị được coi là rõ ràng nếu trong đó đã xác định rõ hàng hóa, số lượng hàng hóa và giá cả của hàng hóa hoặc các cơ sở để xác định những vấn đề trên. Như vậy, một đề nghị chỉ có thể được coi là cơ sở hợp pháp làm phát sinh quan hệ hợp đồng khi nội dung của nó thể hiện được: tên của hàng hóa, số lượng của hàng hóa và giá cả của hàng hóa, đồng thời để nghị này phải được gửi cho một hoặc nhiều người được xác định. Bởi vì, một đề nghị gửi cho một hoặc nhiều người không xác định sẽ được coi là một lời mời chào hàng.

* Phân loại:

- Chào hàng cố định

+ Xác định đầy đủ các yếu tố cần thiết của hợp đồng

+ Thể hiện ý chí của bên chào muốn được ràng buộc về hợp đồng

- Chào hàng tự do

+ Lời đề nghị gửi cho nhiều người

+ Không ràng buộc trách nhiệm của bên chào hàng

+ Thể hiện trên bề mặt là chào hàng tự do.

2. Khái niệm chấp nhận chào hàng

Chấp nhận chào hàng trong thương mại quốc tế là đồng ý của người được chào hàng với những đề nghị của người chào hàng trong thương mại quốc tế.

Chấp nhận chào hàng chỉ có giá trị làm phát sinh quan hệ pháp lí giữa người chào hàng và người được chào hàng khi người chào hàng nhận biết được sự chấp nhận của người được chào hàng. Để bày tỏ sự chấp nhận của mình, người được chào hàng có thể thực hiện một số hành vi nhất định. Theo quy định của Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế thì sự chấp nhận chào hàng của người được chào hàng chỉ có giá trị pháp lí khi nó được thể hiện bằng lời tuyên bố hoặc bằng hành vi của người được chào hàng, biểu thị sự đồng ý của mình đối với nội dung của chào hàng. Như vậy, theo quy định này thì sự im lặng hoặc không hành động của người được chào hàng sẽ không mặc nhiên có giá trị như một sự chấp nhận.

Về mặt pháp lí, chấp nhận chào hàng chỉ có giá trị pháp lí khi nó được gửi tới tay người chào hàng. Tuy nhiên, một chấp nhận chỉ phát sinh hiệu lực pháp lí khi tới tay người chào hàng nếu nó thỏa mãn các yêu cầu sau: Theo quy định của Công ước, trong một số trường hợp + Chấp nhận phải vô điều kiện. mặc dù người được chào hàng không chấp nhận toàn bộ chào hàng mà đưa ra một số điều kiện mới thì việc chấp nhận này cũng có giá trị như chấp nhận vô điều kiện, nếu những điều kiện mới do người được chào hàng đưa ra không làm thay đổi nội dung chủ yếu của chào hàng (khoản 2 Điều 19).

+ Chấp nhận phải được gửi cho người chào hàng trong thời hạn đã ghi trong chào hàng hoặc trong thời gian hợp lí quy định tại Khoản 2 Điều 18 Công ước Viên 1980 .

Tính hợp lí về mặt thời gian để cho chấp nhận có giá trị pháp lí được xác định là: Nếu chào hàng bằng miệng thì phải được chấp nhận ngay (trừ các trường hợp đặc biệt);

Nếu chào hàng bằng các phương tiện thông tin khác thì thời gian chấp nhận được coi là hợp lí là thời gian có tính đến các tình tiết của giao dịch như tốc độ của các phương tiện thông tin mà người chào hàng đã sử dụng.

Thời điểm hợp đồng được kí kết quy định tại Điều 23 Công ước Viên 1980

Thông thường, thời điểm kí kết kí kết hợp đồng giữa các bên có mặt là thời điểm mà các bên cùng kí vào hợp đồng. Trong trường hợp kí kết hợp đồng giữa các bên vắng mặt thì thời điểm kí kết là thời điểm chấp nhận chào hàng có hiệu lực. Theo quy định của Công ước Viên năm 1980 thì thời điểm hợp đồng được ký kết là thời điểm người chào hàng nhận được sự chấp nhận vô điều kiện của người được chào hàng.

3. Hủy bỏ chấp nhận chào hàng

Công ty tôi làm xây dựng, có đầu tư một công trình về nhà ở xã hội. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của đại dịch covid-19. Công trình bị hoãn thi công. Trước đó, công ty tôi có đồng ý khi được chào một lô gỗ sàn từ Trung Quốc. Vì không có kho bãi và điều kiện bảo quản nên chúng tôi muốn hủy đơn hàng. Vậy, chấp nhận chào hàng đó có thể bị hủy bỏ hay không?

Trả lời: Hủy bỏ chấp nhận quy định tại Điều 22 Công ước Viên 1980

Chấp nhận chào hàng có thể bị hủy bỏ nếu thông báo không chấp nhận chào hàng tới người chào hàng trước hoặc cùng một lúc với chấp nhận. Quy định này được áp dụng trong trường hợp mà trước đó người được chào hàng đã chấp nhận chào hàng và bày tỏ quan điểm đó thông qua một thông báo chính thức đối với người chào hàng nhưng ngay sau đó họ đã thay đổi ý kiến của mình là không chấp nhận chào hàng và gửi thông báo hủy cho người chào hàng.

4. Thư chào hàng

Thư chào hàng được xem là một phần của quá trình bán hàng, được thiết lập nhằm thuyết phục những khách hàng tiềm năng mua sản phẩm, dịch vụ cụ thể. Khác với các phương pháp bán hàng thông thường, thư ngỏ chào hàng thường đến tay khách hàng dưới dạng văn bản hoặc email. Đây được xem là một trong những yếu tố không thể thiếu khi tiếp thị qua Internet.

Trước khi bắt đầu một lá thư chào hàng, hãy xác định rõ những gì mà bạn dự định sẽ quảng bá cũng như khách hàng mà bạn sẽ tiếp cận. Điều này có thể sẽ mất khá nhiều thời gian nhưng nếu không có sự chuẩn bị, thì việc tạo nên một lá thư kém hiệu quả là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Và nó khiến bạn mất hàng tá thời gian nhưng lại chẳng mang lại kết quả mà bạn cần.

Thư ngỏ chào hàng nên được gửi đến những khách hàng tiềm năng có thể đáp ứng được những tiêu chí mà bạn đưa ra trong quá trình nghiên cứu khách hàng.

Nhiều ý kiến cho rằng, thư chào hàng nhất thiết phải đưa ra hiệu quả mua hàng ngay lập tức. Tuy nhiên, trên thực tế, hiệu quả của thư ngỏ chào hàng phụ thuộc rất nhiều vào mục đích tạo thư ngỏ của bạn. Đó có thể mục tiêu quảng bá thương hiệu, kích thích sự quan tâm hay khuyến khích mua hàng,…

Thư ngỏ chào hàng của bạn có thể không mang lại hiệu quả mua hàng ngay lập tức, tuy nhiên ít nhất bạn cần đảm bảo được 2 trong các mục tiêu chính là cung cấp cho người đọc đủ thông tin để nâng cao nhận diện thương hiệu của bạn.

Hãy đảm bảo rằng, người đọc có thể biết bạn là ai và hàng hóa, dịch vụ mà bạn cung cấp là gì. Bởi ở thời điểm này, họ có thể chưa cần hoặc không muốn những gì mà bạn cung cấp. Nhưng thư chào hàng của bạn có thể mang lại những tác động tích cực nếu nó thành công tạo ấn tượng với người đọc. Trong tương lai, họ hoàn toàn có thể trở thành những khách hàng tiềm năng của bạn trong tương lai.

Tương tự như nhiều loại văn bản khác, thư chào hàng cũng cần có đầy đủ các phần mở đầu, nội dung chính và kết luận.

Tại phần mở đầu, thông thường sẽ là lời giới thiệu của bạn tới khách hàng, vì vậy hãy cho khách hàng biết lý do mà bạn gửi thư là gì. Và đừng quên thu hút sự chú ý của người đọc bằng một tiêu đề thật thu hút. Tiêu đề thường không giới hạn ký tự, do đó bạn có thể tận dụng điều này để trình bày các thông tin quan trọng và tăng khả năng mở thư với tiêu đề thật thu hút nhé.

Phần thân hay còn được hiểu là phần nội dung chính sẽ là nơi bạn cần nêu bật được những nội dung thu hút và quảng bá về sản phẩm cũng như thể hiện được mục đích gửi thư của bạn.

Hãy lựa chọn những tính năng giúp sản phẩm, dịch vụ của bạn trở nên nổi bật hơn trong mắt khách hàng. Điều này có nghĩa là đừng tập trung đến những tính năng mà bạn cho là tốt nhất, hãy tập trung vào những tính năng mà người dùng cần nhất. Bởi khách hàng chỉ có thể chú ý đến bạn khi bạn có thể “gãi đúng chỗ ngứa” của họ thay vì “thao thao bất tuyệt” về bản thân phải không nào?

Ví dụ: “Chỉ với ít hơn 150 đô la, bạn có thể có toàn bộ ngôi nhà của mình sạch sẽ và lấp lánh mà không phải chịu đựng mùi hôi thối khó chịu của chất tẩy rửa hóa học.” – Đây là một thông điệp mang lợi ích mà khách hàng có thể thấy rõ ràng.

5. Sự khác nhau giữa chào hàng, chấp nhận chào hàng và hoàn giá chào hàng.

Tiêu chí

Chào hàng

Chấp nhận chào hàng

Hoàn giá chào hàng

Khái niệm

Chào hàng là một đề nghị rõ ràng về việc kí kết HĐ của một người gửi cho một hay nhiều người xác định.

Chấp nhận chào hàng là sự thể hiện ý chí đồng ý của người được chào hàng vs những đề nghị của người chào hàng

HGCH là việc người được chào hàng trả lời người chào hàng với mục đích chấp nhận chào hàng nhưng đưa ra điều kiện sửa đổi, bổ sung nội dung chào hàng

Chủ thể

Người chào hàng (CSH hàng hóa)

Người được chào hàng

Người được chào hàng

Nội dung

Xác định rõ HH, số lượng HH, giá cả của HH ( không nhất thiết ấn định giá HH) [hoặc cơ sở để xác định vấn đề trên]

Nêu rõ việc chấp nhận chào hàng bằng lời tuyên bố hoặc một hành vi để người chào hàng biết được sự đồng ý của người đc chào hàng đối với nội dung chào hàng

Nêu rõ các đề nghị sửa đổi, bổ sung – làm biến đổi một cách cơ bản nội dung của chào hàng

Mục đích

Đề nghị rõ ràng việc kí kết HĐ, bày tỏ ý chí sẽ bị rằng buộc bởi lời đề nghị nếu có sự chấp nhận đề nghị đó

Biểu lộ sự đồng ý với chào hàng, sẵn sàng ký kết HĐ với người chào hàng

Bày tỏ chấp nhận chào hàng nhưng có mong muốn sửa đổi bổ sung nội dung chào hàng

Hậu quả pháp lý

Đề nghị về việc kí kể HĐ sẽ bị ràng buộc bởi lời đề nghị nếu chào hàng được chấp nhận

Chấp nhận đề nghị chào hàng sẽ dẫn tới việc chấp nhận kí kết HĐ, chịu ràng buộc vào nội dung chào hàng

Tạo ra một chào hàng mới của người được chào hàng đối với người chào hàng ban đầu

Các trường hợp hủy bỏ

Chào hàng không tới tay người được chào hàng

Người được chào hàng từ chối chào hàng

Thông báo hủy chào hàng đến trước hoặc cùng lúc với chào hàng [với chào hàng không thể hủy bỏ]

Thông báo việc hủy chào hàng tới tay người chào hàng trước khi người này gửi chấp nhận chào hàng [với chào hàng có thể hủy bỏ]

Thông báo không chấp nhận chào hàng tới người chào hàng trước hoặc cùng lúc với chào hàng

Chấp nhận chào hàng không được gửi tới người chào hàng

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)