Chỉ số ích lợi (utility index) là một số bình quân biểu thị thái đô đối với rủi ro và tính bất định của người ra quyết định khi tính bằng ích lợi cận biên mà anh ta thu được từ các khoản thu nhập do những dự án rủi ro mang lại. Chỉ số ích lợi dự kiến được Neumann và Morgenstern đưa ra. Hai ông đã lập luận rằng quyết định dựa trên giá trị ích lợi dự kiến khác với quyết định dựa trên giá trị bằng tiền dự kiến do những thay đổi trong ích lợi mà người ra quyết định thu được từ giá trị bằng tiền. Khi mới đóng thu nhập mà người ra quyết định thu được làm tăng ích lợi của anh ta ít hơn đóng thu nhập trước đó, thì ích lợi cận biên giảm dần này của tiền có thể ảnh hưởng tới thái độ đối với rủi ro. Sở dĩ như vậy là vì nếu một đồng thu nhập tăng thêm làm tăng ích lợi ít hơn trường hợp anh ra bị lỗ khi từ bỏ một đồng thu nhập, thì người ra quyết định sẽ không mạo hiểm, tức không chấp nhận một dự án mà trong đó lợi nhuận bằng tiền bằng số tiền có thể bị mất và môi trường hợp có xác suất bằng 0,5 vì giá trị lợi ích dự kiến của sự mạo hiểm sẽ âm. Chỉ khí ích lợi cận biên bằng tiền của anh ta không thay đổi, người ra quyết định mới có thái độ trung lập đối với rủi ro. Trong tất cả các trường hợp khác, tiêu chuẩn giá trị bằng tiền dự kiến và tiêu chuẩn giá trị ích lợi dự kích đem lại cách sắp xếp thứ tự ưu tiên của các dự án khác nhau.
Chỉ số ích lợi (utility index) là gì ?
Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?
Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?
Cảm ơn bạn đã nhận xét!
Like fanpage Luật Minh Khuê để nhận tin mới mỗi ngày
Liên hệ để được hỗ trợ tốt nhất