1. Cách chia thừa kế theo quy định luật dân sự ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Ông a kết hôn hợp pháp với bà b sinh được 2 người con là c (15 tuổi) và d ( 13 tuổi ). Năm 2017 ông A chết. Biết cha mẹ ông a còn sống, tài sản để lại là 6 tỉ đồng. Chia thừa kế của ông a trong các trường hợp sau:
1. Trước khi chết, ông a không lập di chúc ?
2. ông a để lại toàn bộ tài sản cho c ?
Cảm ơn!

Luật sư trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Gỉa sử bố mẹ ông A lần lượt là E và F

Giả sử tài sản ông A có được trong thời kỳ hôn nhân nên được chia đều cho vợ và chồng

A = B = 3 Tỷ

1. Trước khi chết ông A không để lại di chúc.

Vì ông A trước khi chết không để lại di chúc nên tài sản ( 3 Tỷ) của ông sẽ được chia thừa kế theo pháp luật thuộc Điều 649 Bộ luật dân sự 2015.

Theo Điểm a Khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 quy định: Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Những người cùng hàng thừa kế sẽ nhận được phần thừa kế bằng nhau.

=> B = C = D = E = F = 600 triệu.

2. Trước khi chết ông A để lại di chúc toàn bộ tài sản cho C.

Một suất thừa kế theo pháp luật tài sản của A = 3 Tỷ : 5 người = 600 tr

Theo quy định của Điều 644 Bộ luật dân sự 2015 về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc:

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.

Như vậy, mặc dù di chúc thì ông A để lại toàn bộ tài sản cho C, nhưng cả B,D,E,F đều là đối tượng hưởng ít nhất 2/3 của 1 suất thừa kế theo pháp luật.

=> B = D = E = F = 2/3 của 600 tr = 400 triệu

=> C = 3 Tỷ - (400 x 4) = 1.4 tỷ

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

2. Vướng mắc về chế định Thừa kế, đất đai ?

Thưa luật sư, Ông A và bà B kết hôn năm 1975 có 3 nguoi con C, D, E đã có công ăn việc làm ổn định. Năm 2014 ông A chết để lại di chúc cho D hưởng 2/3 tài sản của mình. Cho hội từ thiện 200 triệu và cho cháu Quỳnh 100 triệu. Tổng giá trị tài sản của ông A là 750 triệu và một ngôi nhà trị giá 300 triệu Ông A còn mẹ đang sống với người em trai.
Vậy chia di sản cho vợ và hai người con không có tên trong di chúc trong trường hợp này như thế nào?

Trả lời:

Tổng giá trị tài sản của ông A để lại là: 750 triệu+ 300 triệu= 1 tỷ 50 triệu đồng

Có thể thấy rằng trong di chúc của ông A thì bà B và hai người con là C, E không được hưởng di sản thừa kế. Tuy nhiên cần xem xét những đối tượng này có thuộc trường hợp thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc hay không.

Theo quy định điều 644 Bộ luật dân sự 2015:

"Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động..".

Có thể thấy bà B là vợ nên thuộc trường hợp thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. C và E đã thành niên và có khả năng lao động nên không thuộc trường hợp này.

Để xác định di sản mà bà B được hưởng sẽ chia toàn bộ di sản thừa kế theo pháp luật, theo đó sẽ chia đều cho 5 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất là: mẹ ông A, bà B, C, D, E mỗi suất thừa kế= 210 triệu đồng.

Do ông A không cho hưởng di sản nên bà B sẽ được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật (210 x 2/3= 140 triệu đồng)

Như vậy, bà B sẽ được hưởng di sản là 140 triệu đồng; C và E không được hưởng di sản do không được thừa kế theo di chúc và cũng không thuộc trường hợp hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc.

Chào Luật sư Bố mẹ tôi mất hơn 10 năm nay, nhưng Hợp đồng thuê nhà vẫn mang tên bố tôi, bố mẹ mất nhưng không có di chúc để lại cho ai. Nay tôi là người được các anh chị em làm hợp đồng ủy quyền làm đại diện sử dụng, làm thủ tục sang tên làm chủ HĐ thuê nhà với nhà nước từ bố tôi, sau đó tôi có trách nhiệm tiếp tục làm sổ đỏ cho ngôi nhà mà bố mẹ tôi để lại. Kính xin Luật sư tư vấn và cho làm HĐ ký kết 2 bên để giúp tôi thực hiện kết quả sớm nhất có thể! Trân trọng cảm ơn Luật sư!

=> Thứ nhất, Căn cứ điều 422 Bộ luật dân sự 2015, Hợp đồng dân sự chấm dứt khi thuộc một trong các trường hợp sau:

1. Hợp đồng đã được hoàn thành;

2. Theo thỏa thuận của các bên;

3. Cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân giao kết hợp đồng chấm dứt tồn tại mà hợp đồng phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện;

4. Hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện;

5. Hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn;

6. Hợp đồng chấm dứt theo quy định tại Điều 420 của Bộ luật này;

7. Trường hợp khác do luật quy định.

Trường hợp này, bố mẹ bạn là người giao kết hợp đồng thuê nhà với bên cho thuê; căn cứ vào quy định trên khi bố mẹ bạn mất thì hợp đồng đã chấm dứt hiệu lực. Vì thế bạn và anh chị em của mình không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê nhà được; trường hợp các bạn vẫn muốn thuê nhà thì có thể giao kết hợp đồng thuê nhà mới với bên cho thuê.

Thứ hai, Luật đất đai số 45/2013/QH13 quy định các trường hợp được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất (Giấy chứng nhận):

" Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho những trường hợp sau đây:

a) Người đang sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại các điều 100, 101 và 102 của Luật này;

b) Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành;

c) Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ;

d) Người được sử dụng đất theo kết quả hòa giải thành đối với tranh chấp đất đai; theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;

đ) Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất;

e) Người sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế;

g) Người mua nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất;

h) Người được Nhà nước thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; người mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;

i) Người sử dụng đất tách thửa, hợp thửa; nhóm người sử dụng đất hoặc các thành viên hộ gia đình, hai vợ chồng, tổ chức sử dụng đất chia tách, hợp nhất quyền sử dụng đất hiện có;

k) Người sử dụng đất đề nghị cấp đổi hoặc cấp lại Giấy chứng nhận bị mất..."

Như vậy không có trường hợp thuê nhà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; vì vậy không làm thủ tục để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Thưa luật sư, Ông K đang sử dụng 2 diện tích đất cùng nằm trên địa bàn huyện H và đều đã được xây dựng nhà ở, bao gồm: - Một mảnh đất rộng 80m2, được thừa kế từ cha mẹ từ năm 1977. - Một mảnh đất có diện tích 85m2 do ông nhận quyền chuyển nhượng vào năm 1987 (có hợp đồng chuyển nhượng với chủ cũ) Năm 2016, hai diện tích đất nói trên được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hạn mức đát ở theo quy định của địa phương là 150m2. Hỏi: 1. Ông K có phải nộp những nghĩa vụ tài chính nào cho nhà nước khi làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đai không? 2. Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với hai thửa đất của ông K được tính như thế nào?

=> 1. Nghĩa vụ tài chính khi làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất:

Căn cứ quy định Nghị định 45/2011/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 23/2013/NĐ-CP thì nhà, đất thuộc đối tượng chịu lệ phí trước bạ

Cũng theo quy định tại Nghị định này, "Nhà, đất nhận thừa kế hoặc là quà tặng giữa: Vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau nay được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.” không phải nộp lệ phí trước bạ.

Do đó đối với mảnh đất được thừa kế năm 1977 ông K không phải thực hiện nghĩa vụ tài chính.

Đối với mảnh đất nhận chuyển nhượng, ông K có nghĩa vụ:

-Nộp lệ phí trước bạ: mức thu là 0,5%; với giá tính = diện tích đất chịu lệ phí trước bạ x giá 1m2 đất theo bảng giá đất mà UBND tỉnh ban hành tại thời điểm kê khai lệ phí trước bạ

- Lệ phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phụ thuộc điều kiện cụ thể của từng địa bàn và chính sách phát triển kinh tế - xã hội của địa phương mà quy định mức thu cho phù hợp

2. Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp:

Căn cứ tính thuế là thuế suất và giá tính thuế

- Giá tính thuế: Giá tính thuế đối với đất được xác định bằng diện tích đất tính thuế nhân với giá của 1m2 đất.

- Thuế suất:

Phần diện tích đất trong hạn mức: thuế suất 0,03%;

Phần diện tích vượt không quá 3 lần hạn mức thuế suất 0,07%;

Phần diện tích vượt trên 3 lần hạn mức với mức thuế suất 0,15%.

- Diện tích đất tính thuế là: diện tích đất thực tế sử dụng; trường hợp có quyền sử dụng nhiều thửa đất ở thì diện tích đất tính thuế là tổng diện tích các thửa đất tính thuế.

Vậy, diện tích đất tính thuế của ông K là 165m2; trong khi đó hạn mức mà địa phương quy định là 150m2, có nghĩa diện tích đất đã vượt quá hạn mức 15m2. Vì thế 150m2 đất sẽ áp dụng mức thuế suất là 0,03% và với 15m2 sẽ áp dụng mức thuế suất là 0,07%.

Thưa luật sư, Tháng 9/2016, ông Trần tặng cho vợ chồng con gái út 1 thửa đất 50 m2, ngõ 16 Huỳnh Thúc Kháng, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, HN. a. Cho biết điều kiện về hình thức để thực hiện việc tặng cho nói trên? b. Vợ chồng người con có được cấp giấy chứng nhận không? Vì sao? c. Cho biết chi phí công chứng và các khoản phải nộp nhà nước?

=> a) Điều kiện về hình thức để thực hiện việc tặng cho quyền sử dụng đất (điều 459 Bộ luật dân sự 2015)

- Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bảncông chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật.

- Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản.

b) Căn cứ quy định điều 99 Luật Đất đai 2013: trường hợp sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: "...Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ;..."

Vì thế vợ chồng người con được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

c) Về việc công chứng:

Theo quy định luật đất đai 2013 thì hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực; Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã.

- Chi phí công chứng: theo quy định điều 4 Thông tư 257/2016/TT-BTC trường hợp công chứng hợp đồng chuyển nhượng, tặng, cho, chia, tách, nhập, đổi, góp vốn bằng quyền sử dụng đất thì phí công chứng tính trên giá trị quyền sử dụng đất.

- Các khoản khác:

+ Lệ phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

+ Lệ phí trước bạ.

Thưa luật sư, Luật sư giúp tôi tình huống sau: A xây nhà lấn sang phần đất của B. Theo luật hiện hành, B có quyền gì ? Tôi xin chân thành cảm ơn.

=> Điều 12 Luật đất đai 2013 quy định những hành vi bị nghiêm cấm:

1. Lấn chiếm, hủy hoại đất đai.

2. Vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố....

Như vậy, hành vi của A xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp về đất đai của gia đình hàng xóm (B); trong trường hợp này B có quyền:

- Yêu cầu bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về mức bồi thường

- Trường hợp không thỏa thuận với nhau được về việc bồi thường thì nộp đơn yêu cầu hòa giải tại UBND xã; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

Trường hợp hòa giải không thành thì giải quyết như sau:

+ Nếu đương sự có giấy chứng nhận hoặc các giấy tờ về quyền sử dụng đất thì Tòa án giải quyết tranh chấp

+ Nếu đương sự không có giấy chứng nhận hoặc các giấy tờ về quyền sử dụng đất thì có hai phương án:

1. Nộp đơn yêu cầ giải quyết tranh chấp đến UBND huyện; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

2. Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

- Khiếu kiện về đất đai, việc giải quyết khiếu kiện thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

Thưa luật sư, xin hỏi luật sư là: Trước khi Tòa án tuyên bố một người mất tích thì có được xóa hộ khẩu của người đó không? Cảm ơn!

=> Theo quy định của Luật cư trú sửa đổi, bổ sung số 36/2013/QH13 của Quốc hội, các trường hợp xóa đăng ký thường trú gồm:

a) Chết, bị Toà án tuyên bố là mất tích hoặc đã chết;

b) Được tuyển dụng vào Quân đội nhân dân, Công an nhân dân ở tập trung trong doanh trại;

c) Đã có quyết định huỷ đăng ký thường trú quy định tại Điều 37 của Luật này;

d) Ra nước ngoài để định cư;

đ) Đã đăng ký thường trú ở nơi cư trú mới; trong trường hợp này, cơ quan đã làm thủ tục đăng ký thường trú cho công dân ở nơi cư trú mới có trách nhiệm thông báo ngay cho cơ quan đã cấp giấy chuyển hộ khẩu để xoá đăng ký thường trú ở nơi cư trú cũ.

Về quy định tuyên bố một người mất tích: Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

Quyết định của Tòa án tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Như vậy chỉ khi có quyết định tuyên bố một người mất tích của Tòa án thì mới có thể thực hiện việc xóa đăng ký thường trú của người đó. Còn trước khi tuyên bố một người mất tích thì không thực hiện được việc xóa đăng ký thường trú.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Phân chia di sản khi đã hết thời hiệu khởi kiện thừa kế ? Quyền bán tài sản được thừa kế ?

3. Khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật ?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Cho em hỏi, mẹ em đã mất lâu rồi, bố em đi lấy vợ khác. Bây giờ bố em cũng mât và không để lại di chúc.

Bây giờ em muốn nhờ pháp luật chia tài sản thừa kế này thì cần thực hiện những thủ tục gì?

Em xin trân thành cám ơn!

Email: Tranhaia

Chia thừa kế theo quy định Bộ luật dân sự 2015

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi, bổ sung 2011. Để chia thừa kế theo pháp luật, bạn cần thực hiện thủ tục khởi kiện chia tài sản thừa kế theo pháp luật.

+ Đơn khởi kiện (theo mẫu)

+ Các giấy tờ về quan hệ giữa người khởi kiện và người để lại tài sản: giấy khai sinh, chứng minh thư nhân dân, giấy chứng nhận kết hôn, sổ hộ khẩu, giấy giao nhận nuôi con nuôi để xác định diện và hàng thừa kế.

+ Giấy chứng tử của người để lại di sản thừa kế;

+ Bản kê khai các di sản;

+ Các giấy tờ, tài liệu chứng minh sở hữu của người để lại di sản và nguồn gốc di sản của người để lại di sản;

+ Các giấy tờ khác: biên bản giải quyết trong hộ tộc, biên bản giải quyết tại UBND xã, phường, thị trấn (nếu có), tờ khai từ chối nhận di sản (nếu có).

Sau khi chuẩn bị xong hồ sơ, bạn gửi lên Tòa án nhân dân cấp quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh nơi có di sản thừa kế.

Việc chia tài sản thừa kế theo pháp luật, sẽ căn cứ Bộ luật dân sự 2005:

“Ðiều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”.

Trân trọng cám ơn!

>> Xem thêm:  Thuế thu nhập cá nhân khi nhận di sản thừa kế ? Kiện đòi lại tài sản thừa kế như thế nào ?

4. Muốn lấy lại phần đất thừa kế cần làm thế nào ?

Kính gửi công ty Luật Minh Khuê, mong luật sư tư vấn hộ tôi trường hợp này: Hiện tôi đang có vụ việc thừa kế đất và được tòa án Thốt Nốt TP Cần Thơ thụ lý, trải qua hơn 1 năm giải quyết đến nay tất cả giấy tờ và sự đúng sai được minh chứng rõ ràng và bước cuối cùng là tòa án tiếng hành đo vẽ để trả phần thừa kế cho tôi.

Nhưng từ ngày đo vẽ cho đến nay hơn 8 tháng vênh đo đạc họ nói chưa có kết quả còn tòa án thì nói cần có kết quả đo vẽ mới có thể giải quyết được. Trong hợp đồng không phải chữ ký của tôi mà là chữ ký giả mạo. Bao nhiêu ngày trôi qua tôi được biết bên mua đã hối lộ cho người làm việc để việc chậm lại kéo dài thời gian. Vì bởi trước đó họ đã nói riêng tư với tôi đề nghị tôi lấy 1 số tiền rồi về quê nhưng tôi nhất quyết không lấy tiền chỉ nhận lại đất vì thế nên họ kéo dài thời gian. Giờ tôi rất hoan mang không biết hướng đi hy vong luật sư chỉ hướng cho tôi nên làm gì ?. Vì bên đo đạc họ nói chưa có kết quả đo vẽ.

Mong luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi xin cảm ơn !

Khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật ?

Luật sư tư vấn mua lại phần đất thừa kế, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Ở đây là bạn được trả phần thừa kế đất và được tòa án Thốt Nốt TP Cần Thơ thụ lý và đã giải quyết để hưởng phần thừa kế đó . Nhưng vấn đề ở đây là bạn có hợp đồng mua bán đất nhưng không phải chữ của bạn mà là chữ ký giả mạo. Do đó theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 quy định:

Điều 122. Giao dịch dân sự vô hiệu

Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác.

Điều 123. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội

Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

Điều 124. Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

1. Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.

2. Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu

Điều 125. Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện

1. Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Giao dịch dân sự của người quy định tại khoản 1 Điều này không bị vô hiệu trong trường hợp sau đây:

a) Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;

b) Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ;

c) Giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.

Như vậy, do hợp đồng không có chữ ký của bạn tức là bạn không tự nguyện tham gia giao dịch này nên giao dịch dân sự đó bị coi là vô hiệu. Mảnh đất bạn được thừa kế sẽ vẫn thuộc về bạn. Để xác nhận hợp đồng trên vô hiệu bạn cần làm đơn đến Tòa án nơi có mảnh đất để yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu đồng thời yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu

Để khắc phục tình trạng chậm trễ trong đo đạc, bạn cần cần phải làm đơn nên cơ quan địa chính nơi có mảnh đất để cơ quan địa chính có trách nhiệm tốt hơn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Tư vấn chia thừa kế theo di chúc và theo pháp luật ? Thủ tục tặng cho đất được thừa kế ?

5. Phân chia thừa kế là đất đai theo luật dân sự ?

Xin chào luật sư. Tôi có câu hỏi mong nhận được sự tư vấn của luật sư : Bà ngoại tôi là N. T. Đ, có sinh 3 người con trai. Hiện tại các cậu đều đang sinh sống trong một ngôi nhà (nhà xây năm 1961). Ông ngoại tôi mất sớm, lúc thời còn chiến tranh.

Ngôi nhà này xây từ thời ông bà cố (tức là ba mẹ chồng của bà ngoại tôi). Ông bà cố có 3 người con. Một là ông ngoại X có 3 người con A, B, C, Hai là bà Y có 2 người con trai là D và E, ba là bà Z. Sau này ông cố mất, bà cố lúc tuổi già đã lập di chúc trong việc phân chia tài sản như sau:

Người A: "cái nhà trên, cháu đích tôn là người thừa kế gia đình này".

Người B: "một số đất từ nhà vệ sinh dọc xuống đụng rào phía Đông, dọc vô phía Nam, dọc lên phía Tây, muốn cất nhà chỗ nào cũng được".

Người C: "2 phòng, phòng để Tivi và phòng kế nhà bếp". Bà ngoại (vợ ông X): "1 phòng".

Người D & E: "3 phòng để gạo cám có khoá".

Trích nguyên văn như sau: "Nay tôi làm tờ di chúc này là do chồng tôi đã nói lại khi chồng tôi đã nhắm mắt và cũng theo lời hứa của chồng, sau khi tôi nhắm mắt xin các nhân chứng và chính quyền địa phương xác nhận đúng trong tờ di chúc". Tờ di chúc thể hiện ngày 02/12/1995. Có dấu tay của bà cố, có người làm giấy và nhân chứng, không có con dấu xác nhận của chính quyền địa phương tại thời điểm đó. Lưu ý một chỗ là người làm chứng lại ký tên và ghi thời điểm là ngày 03/12/1995. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện tại do bà ngoại tôi là vợ ông X đang đứng tên (đất Hộ gia đình, nguồn gốc: Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất). Thời điểm cấp Giấy chứng nhận là ngày 16/03/2009.

Tôi có một số câu hỏi như sau:

1. Di chúc có hợp lệ không? Trong trường hợp không có chính quyền địa phương xác nhận cũng như thời điểm người làm chứng không đúng với thời điểm lập di chúc.

2. Tài sản sẽ được phân chia như thế nào nếu nhà bị sập hoặc đập nhà?

3. Trong trường hợp không thoả thuận được việc phân chia thừa kế, ông B là người được chia "một số đất từ nhà vệ sinh dọc xuống đụng rào phía Đông, dọc vô phía Nam, dọc lên phía Tây, muốn cất nhà chỗ nào cũng được" có được quyền quyết định diện tích của mình không? Bởi vì di chúc ghi không rõ ràng diện tích nên không xác định được. " Muốn cất nhà chỗ nào cũng được" không đồng nghĩa "tất cả chỗ ấy là của mình". Tổng diện tích lô đất gần 900 m2.

4. Người D & E có thực sự được chia không?

5. Trong trường hợp bà ngoại vợ ông X mất mà chưa làm thủ tục di chúc thì tài sản được phân chia như thế nào? Hoặc nếu bản gốc tờ di chúc bị thất lạc hoặc bị mối mọt không còn nguyên vẹn. Nếu gia đình anh em với nhau mà thoả thuận phân chia được hoặc di chúc ghi rõ diện tích thì có lẽ tranh chấp không xảy ra, nhưng hiện tại ông B đòi chia phần diện tích của bản thân, ông D & E đòi hơn thứ mình thực sự có. Bà tôi hiện tại giờ cũng đã 70 tuổi, cũng không biết chia như thế nào để các con vừa lòng.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: T.Đ.

Phân chia thừa kế theo luật dân sự ?

Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất: Trong trường hợp không có chính quyền địa phương xác nhận cũng như thời điểm người làm chứng ký không đúng với thời điểm lập di chúc thì di chúc có hợp lệ không?

Theo Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2005 (Bộ luật dân sự năm 2015) quy định về di chúc hợp pháp như sau:

“1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực”.

Với quy định trên, một di chúc được coi là hợp pháp mà không được công chứng chứng thực nếu có đẩy đủ các điều kiện:

+ Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép

+ Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật

Đồng thời đối với chủ thế lập di chúc phải đáp ứng các điều kiện tại khoản 2, khoản 3 Điều này nếu thuộc các trường hợp trên.

Theo thông tin bạn cung cấp, bà cố bạn có để lại di chúc được lập vào ngày 2/12/1995, hình thức di chúc được lập bằng văn bản và có chữ ký của người làm chứng, có dấu vân tay của bà cố bạn và không được công chứng, chứng thực. Tuy nhiên, người làm chứng lại ký vào ngày 3/12/1995.

Căn cứ Điều 656 Bộ luật dân sự quy định di chúc bằng văn bản có người làm chứng:

“Trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúc thì có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

Việc lập di chúc phải tuân theo quy định tại Điều 653 và Điều 654 của Bộ luật này”.

Bạn chưa cung cấp được, khi bà cố lập di chúc, ai là người viết di chúc?

Trường hợp 1: Nếu bà cố tự viết di chúc và nhờ người làm chứng ký vào di chúc thì di chúc này hợp pháp.

Trường hợp 2: Nếu bà cố nhờ người lập di chúc, đồng thời có người làm chứng

Xét trường hợp di chúc nêu trên của bà cố bạn, bạn cần tìm hiểu lý do người làm chứng lại ký sau thời điểm lập di chúc. Nếu di chúc trên mà người làm chứng chứng minh và đưa ra lý do hợp pháp về việc ký vào di chúc, thì di chúc trên đã đáp ứng đầy đủ điều kiện của pháp luật. Nếu trường hợp người làm chứng không đưa ra lý do phù hợp về việc ký sau thời điểm lập di chúc, bạn cần xem xét lại tại thời điểm lập di chúc, bà cố bạn có lập trong tình trạng minh mẫn, sáng suốt không hay bị cưỡng ép. Với trường hợp di chúc được lập trong tình trạng không minh mẫn, sáng suốt thì di chúc này vô hiệu.

2. Tài sản sẽ được phân chia như thế nào nếu nhà bị sập hoặc đập nhà ?

Theo khoản 3 Điều 667 Bộ luật dân sự quy định:

“Di chúc không có hiệu lực pháp luật, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực”.

Với quy định trên, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế, thì di chúc không còn hiệu lực pháp luật. Nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì di sản còn lại vẫn còn hiệu lực.

Đối với trường hợp của bạn, trường hợp nhà bị sập tại thời điểm mở thừa kế, nhưng diện tích đất không ảnh hưởng, vì vậy, người thừa kế vẫn được thừa kế diện tích đất có nhà bị sập đó. Trong trường hợp đập nhà tại thời điểm thừa kế mà không hỏi ý kiến của người thừa kế, sẽ phải bồi thường thiệt hại và nếu gây ra hậu quả nghiêm trọng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi có đơn khởi kiện của người yêu cầu.

Trong trường hợp không thoả thuận được việc phân chia thừa kế, ông B là người được chia "một số đất từ nhà vệ sinh dọc xuống đụng rào phía Đông, dọc vô phía Nam, dọc lên phía Tây, muốn cất nhà chỗ nào cũng được" có được quyền quyết định diện tích của mình không? Bởi vì di chúc ghi không rõ ràng diện tích nên không xác định được. "Muốn cất nhà chỗ nào cũng được" không đồng nghĩa "tất cả chỗ ấy là của mình". Tổng diện tích lô đất gần 900 m2.

Theo Điều 673 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về giải thích nội dung di chúc:

“Trong trường hợp nội dung di chúc không rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau thì người công bố di chúc và những người thừa kế phải cùng nhau giải thích nội dung di chúc dựa trên ý nguyện đích thực trước đây của người chết, có xem xét đến mối quan hệ của người chết với người thừa kế theo di chúc. Khi những người này không nhất trí về cách hiểu nội dung di chúc thì coi như không có di chúc và việc chia di sản được áp dụng theo quy định về thừa kế theo pháp luật.

Trong trường hợp có một phần nội dung di chúc không giải thích được nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của di chúc thì chỉ phần không giải thích được không có hiệu lực”.

Như vậy, với quy định này xét trong trường hợp của bạn, cả hai bên không thống nhất về nội dung di chúc, thì phần không rõ ràng đó không có hiệu lực, và sẽ phải chia theo thừa kế pháp luật nếu không ảnh hưởng đến các phần còn lại trong di chúc.

3. Trong trường hợp không thoả thuận được việc phân chia thừa kế, ông B là người được chia "một số đất từ nhà vệ sinh dọc xuống đụng rào phía Đông, dọc vô phía Nam, dọc lên phía Tây, muốn cất nhà chỗ nào cũng được" có được quyền quyết định diện tích của mình không?

Việc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế được quy định tại khoản 2 Điều 681 Bộ luật dân sự:

"1. Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố, những người thừa kế có thể họp mặt để thoả thuận những việc sau đây:

a) Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc;
b) Cách thức phân chia di sản.

2. Mọi thoả thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản".


Do đó, việc phân chia di sản thừa kế ưu tiên sự thỏa thuận của các đồng thừa kế và việc thỏa thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản.

Nếu vẫn không thể thỏa thuận với nhau và có tranh chấp xảy ra khi thời hiệu khởi kiện về thừa kế vẫn còn theo quy định tại điều 645 Bộ luật dân sự:

Điều 645. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế

Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Như vậy, trong trường hợp này, nếu có tranh chấp thì các bên có thể khởi kiện yêu cầu chia thừa kế nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn mà ông B không được quyền quyết định diện tích đó.

4. Người D và E có thực sự được chia không ?

Nếu di chúc trên hợp pháp, thì người D và E được chia phần di sản thừa kế đã nêu trong di chúc. Vì, theo Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Đây là ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của bà cố cho hai người D và E, vì vậy D và E vẫn được hưởng di sản thừa kế được nêu trong di chúc.

5. Trong trường hợp bà ngoại vợ ông X mất mà chưa làm thủ tục di chúc thì tài sản được phân chia như thế nào? Hoặc nếu bản gốc tờ di chúc bị thất lạc hoặc bị mối mọt không còn nguyên vẹn. Nếu gia đình anh em với nhau mà thoả thuận phân chia được hoặc di chúc ghi rõ diện tích thì có lẽ tranh chấp không xảy ra, nhưng hiện tại ông B đòi chia phần diện tích của bản thân, ông D & E đòi hơn thứ mình thực sự có. Bà tôi hiện tại giờ cũng đã 70 tuổi, cũng không biết chia như thế nào để các con vừa lòng.

Trong trường hợp này nếu bà ngoại vợ ông X mất mà chưa làm thủ tục di chúc thì theo quy định của pháp luật di sản sẽ được chia theo pháp luật về hàng thừa kế tại điều 676 Bộ luật dân sự 2005.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn pháp luật thừa kế - Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn thừa kế giữa anh chị em ruột với nhau ? Thừa kế thế vị chia tài sản như thế nào ?