- 1. Khái quát chung về chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật
- 2. Tiêu chí nhận diện trường hợp chiếm hữu, sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật
- 2.1. Có việc chiếm hữu, sử dụng tài sản
- 2.2. Việc chiếm hữu, sử dụng tài sản là không có căn cứ pháp luật
- 3. Tiêu chí nhận diện trường hợp được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật
- 3.1. Có sự gia tăng giá trị tài sản hoặc sự thụ hưởng lợi ích
- 3.2. Có sự thiệt hại về tài sản mà người khác gánh chịu
- 3.3. Có mối liên hệ nhân quả giữa việc một người được lợi và một người khác chịu thiệt hại
- 4. Thế nào là không có căn cứ pháp luật?
- 4.1. Chỉ cần tình trạng được lợi không có căn cứ pháp luật
- 4.2. Lỗi của người bị thiệt hại
- 5. Nghĩa vụ hòa trả tài sản
- 5.1. Hoàn trả tài sản gốc
- 5.2. Hoàn trả hoa lợi, lợi tức
- 5.3. Trường hợp tài sản được chuyển giao cho người thứ ba
Thưa luật sư, làm thế nào để nhận diện được hành vi chiếm hữu, sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật và được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật ạ? Nghĩa vụ hoàn trả tài sản phát sinh trong hai trường hợp này có gì khác biệt hay không? Rất mong nhận được phản hồi từ luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: Phúc Tiến - Tuyên Quang
1. Khái quát chung về chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật
Tình huống dự kiến trong thực tiễn là một người tiếp nhận một tài sản, nói chung, một lợi ích trong khi căn cứ pháp lý của việc tiếp nhận lại không tồn tại. Các nguyên nhân của tình huống rất đa dạng: có một vụ trộm hoặc cướp và tài sản nằm trong tay kẻ trộm, cướp; một người nhặt được tài sản rơi vãi mà không tiến hành thủ tục khai trình tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thông báo công khai theo quy định của pháp luật; một người nhận hàng được giao theo một hợp đồng mua bán do người bán ghi nhầm địa chỉ nhận hàng, nhưng giữ luôn không giao trả;…
BLDS phân biệt nghĩa vụ hoàn trả tuỳ theo nghĩa vụ được xác lập trong trường hợp chiếm hữu, sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật gây thiệt hại cho người khác.
“Điều 579. Nghĩa vụ hoàn trả
1. Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó; nếu không tìm được chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.
2. Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật làm cho người khác bị thiệt hại thì phải hoàn trả khoản lợi đó cho người bị thiệt hại, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này”.
Dù là chiếm hữu, sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật hay được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật, thì nghĩa vụ hoàn trả giống như trong trường hợp xác lập trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: nguyên tắc công bằng số học. Nguyên tắc này được thiết lập là mỗi người phải được hưởng và được giữ lại những gì thuộc về mình. Bởi vậy, khi có thứ gì đó của mình bị mất mà không phải do nguyên nhân khách quan, ngoài ý muốn, cũng không phải do lỗi của mình, thì người có thứ đó được quyền đòi lại; tương ứng với quyền đó là nghĩa vụ hoàn trả của người nắm giữ hoặc được hưởng lợi về tài sản.
2. Tiêu chí nhận diện trường hợp chiếm hữu, sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật
2.1. Có việc chiếm hữu, sử dụng tài sản
BLDS quy định, “người nào chiếm hữu, sử dụng tài sản của người khác”. Điều này cho phép hiểu rằng, nghĩa vụ hoàn trả chỉ phát sinh một khi việc chiếm hữu, sử dụng tài sản là có thật, có tính hiện thực. Các ví dụ rất đa dạng: tiền đã nhập vào tài khoản, hàng được giao xong và đã nằm trong sự chiếm hữu hoặc đã được sử dụng,...
BLDS không xác định rõ, trong hoàn cảnh nào việc chiếm hữu, sử dụng tài sản của người khác xảy ra. Tuy nhiên, một cách hợp lý, phải có một vụ chuyển giao tài sản từ người khác đó, do nhầm lẫn: nếu người có tài sản không giao, mà tài sản lại được người khác chiếm hữu, sử dụng, thì chắc chắn phải coi việc chiếm hữu, sử dụng đó là trái với ý muốn của chù sở hữu, nghĩa là gây thiệt hại cho chủ sở hữu. Trong trường hợp việc chiếm hữu, sử dụng tài sản của người khác mà gây thiệt hại cho người khác đó, thì phải ghi nhận tình trạng được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật.
Trường hợp tài sản đã rời khỏi phạm vi kiểm soát của người chuyển giao nhưng người được cho là người tiếp nhận lại chưa có điều kiện đặt tài sản trong phạm vi quản lý của mình, thì việc chiếm hữu, sử dụng tài sản của người này chưa được ghi nhận. Ví dụ: Công ty chuyển phát nhanh nhận một lô mỹ phẩm để chuyển đến nhà số X đường số 16 Quận T. Tuy nhiên, hàng bị giao nhầm đến địa chỉ nhà số X đường số 16 Quận 7 và do chủ nhà đi vắng, người giao hàng đã để hàng trước cửa; sau đó hàng bị người khác lấy mất. Chủ nhà trong trường hợp này không có nghĩa vụ hoàn trả do chưa chiếm hữu thực tại để sử dụng tài sản.
2.2. Việc chiếm hữu, sử dụng tài sản là không có căn cứ pháp luật
Người bị coi là chiếm hữu, sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật là người không có tư cách pháp lý để nắm giữ, quản lý, khai thác tài sản.
Việc chiếm hữu, sử dụng tài sản mà không có căn cứ khách quan được ghi nhận một khi cả người giao và người nhận đều không có căn cứ để thực hiện việc giao cũng như việc nhận. Trái lại, việc chiếm hữu, sử dụng tài sản mà không có căn cứ chủ quan được ghi nhận một khi ít nhất một bên hoặc cả hai bên đều có căn cứ để thực hiện việc giao và nhận, nhưng rốt cuộc việc giao được thực hiện cho người không có ý định nhận; có trường hợp người nhận có ý định nhận, nhưng người giao không phải là người mà người nhận trông đợi để nhận tài sản, lợi ích.
Ví dụ điển hình của trường hợp chiếm hữu, sử dụng tài sản mà không có căn cứ khách quan là việc nhận tài sản, lợi ích theo một hợp đồng mua bán bị tuyên bố vô hiệu: người mua không có tư cách để giữ lại tài sản mua; người bán không có tư cách để giữ số tiền mà người mua đã trả.
Ví dụ điển hình của trường hợp chiếm hữu, sử dụng tài sản mà không có căn cứ chủ quan là ngân hàng nhận lệnh chuyển tiền – nghĩa là có nghĩa vụ thực hiện việc chuyển tiền cho một người nào đó, nhưng lại chuyển nhầm tài khoản người nhận.
3. Tiêu chí nhận diện trường hợp được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật
3.1. Có sự gia tăng giá trị tài sản hoặc sự thụ hưởng lợi ích
Khoản 2 Điều 579 BLDS nhắc đến người được lợi về tài sản một cách chung chung. Chắc chắn, việc được lợi được ghi nhận trong trường hợp khối tài sản có của chủ thể gia tăng giá trị. Về phương diện kế toán, sự gia tăng ấy là kết quả cân đối tài sản có và tài sản nợ, cho thấy một số dư ròng khả quan hơn so với trước khi sự việc xảy ra dẫn đến tình trạng được lợi về tài sản. Đó có thể là sự xuất hiện yếu tố mới trong khối tài sản có (một số tiền được nhập vào tài khoản chẳng hạn) hoặc sự biến mất của một hoặc nhiều yếu tố trong khối tài sản nợ (một món nợ của bản thân được người khác trả hộ,...).
3.2. Có sự thiệt hại về tài sản mà người khác gánh chịu
Khoản 2 Điều 579 BLDS ghi nhận thiệt hại mà một người phải gánh chịu như là điều kiện để áp dụng điều luật. Đây là điểm tạo sự khác biệt giữa được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật và chiếm hữu, sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật.
Trong trường hợp, người mắc nợ trả nợ nhầm người nhưng chủ nợ đích thực chưa đòi nợ, thì thiệt hại chưa xảy ra cho người trả nhầm, thì phải ghi nhận tình trạng chiếm hữu, sử dụng tài sản; người trả nhầm chỉ có quyền áp dụng khoản 1 Điều 579 BLDS để yêu cầu người nhận nhầm hoàn trả. Còn nếu trả nhầm, rồi sau đó bị chủ nợ đích thực đòi nợ, thì người mắc nợ phải trả nợ thêm một lần nữa và bị thiệt hại, khi đó, người này có quyền áp dụng Điều 579 khoản 2 BLDS để yêu cầu người nhận nhầm hoàn trả.
Thiệt hại được hiểu là sự tổn thất đối với chủ thể. Về mặt định lượng, đó phải là sự giảm sút giá trị khối tài sản có của chủ thể so với trước khi xảy ra thiệt hại. Chẳng hạn, công ty thu mua thuỷ sản X trả nhầm tiền mua hàng cho chủ doanh nghiệp nuôi tôm Y, trong khi chủ doanh nghiệp nuôi tôm Z, người thực sự bán hàng cho công ty X, thì không được trả, sau đó, do bị chủ nợ thật đòi, công ty X phải trả nợ thêm một lần nữa.
Có trường hợp một người làm cho người khác hưởng lợi nhưng không chịu thiệt hại, thì không thể đòi người khác giao cho mình số lợi đó chỉ với lý do là người này không tự mình tạo ra số lợi. Một người tư vấn cho người khác chơi cá cược hoặc mua vé số không thể đòi chia sẻ với người chơi, người mua số tiền trúng cá cược, trúng số mà người này thu được.
Có trường hợp một người được hưởng lợi, nhưng người khác không chỉ thiệt hại mà cũng được hưởng lợi. Trong trường hợp này, liệu người chịu thiệt hại có quyền yêu cầu người hưởng lợi chia sẻ thiệt hại? Ví dụ: một người tự bỏ chi phí để xây dựng hệ thống chắn gió bảo vệ nhà mình; nhờ hệ thống đó mà các nhà lân cận cũng được bảo vệ, nghĩa là cũng được hưởng lợi. Về mặt lý thuyết, người bỏ chi phí có thể viện dẫn khoản 2 Điều 579 BLDS để yêu cầu những người được hưởng lợi phải đền bù (đúng hơn là góp chi phí); nhưng trên thực tế ở Việt Nam, chẳng ai cho rằng những người hưởng lợi trong trường hợp này có nghĩa vụ hoàn trả chi phí cho người đã tự bỏ tiền để xây hệ thống chắn gió.
3.3. Có mối liên hệ nhân quả giữa việc một người được lợi và một người khác chịu thiệt hại
Điều quan trọng, để tình trạng được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật được ghi nhận là giữa sự thiệt hại của một người là tình trạng được lợi của một người khác có mối liên hệ nhân quả: chính sự thiệt hại của người này là nguyên nhân việc được lợi của người kia. Đúng hơn, sự thiệt hại của người này thể hiện thành việc được lợi của người kia. Học thuyết pháp lý các nước nói rằng hai tình trạng ấy là “hai cách ghi nhận đối với cùng một sự kiện”.
BLDS không xác định rõ ai là người phải chịu trách nhiệm chứng minh về mối liên hệ nhân quả. Một cách hợp lý, người nào cho rằng việc một người khác hưởng lợi là do đã lấy đi lợi ích vật chất của mình, thì phải chứng minh điều đó.
4. Thế nào là không có căn cứ pháp luật?
Tình trạng được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật được ghi nhận trong điều kiện không có bất kỳ một quy tắc pháp lý nào có thể được dùng để đặt cơ sở cho việc được lợi đó. Một người, công ty xuất khẩu nông sản tỉnh T giao kết hợp đồng bán 20 tấn thanh long ruột đỏ cho một doanh nghiệp tại Mỹ; công ty xuất khầu giao cho người mua đến 25 tấn nhưng lại ngỡ rằng chỉ giao đủ 20 tấn. Rõ ràng không có cách gì để biện minh cho việc người mua trong trường hợp này được lợi 5 tấn hàng. Một người nhặt được một chiếc ví của người khác bị đánh rơi không thể biện minh cho việc giữ lấy số tiền có trong ví làm của riêng.
4.1. Chỉ cần tình trạng được lợi không có căn cứ pháp luật
Nếu tình trạng được lợi có căn cứ pháp luật, thì người bị thiệt hại không thể kiện cáo, ngay cả trong trường hợp tình trạng thiệt hại là không hợp lý đối với người bị thiệt hại. Ví dụ, theo hợp đồng cho thuê nhà, người cho thuê sẽ tiếp quản tất cả các công trình do người thuê xây dựng khi hết hạn cho thuê mà không phải bồi thường. Người thuê hợp đồng với nhà thầu xây dựng một số công trình phụ mà không trả tiền công xây dựng. Trong trường hợp này, nhà thầu không thể yêu cầu người cho thuê trả tiền thay, dù rõ ràng nhà thầu bị thiệt hại trong khi người cho thuê được hưởng lợi. Lý do là quan hệ hợp đồng giữa người thuê và nhà thầu là quan hệ đối nhân, chỉ có hiệu lực đối với 2 bên mà không ràng buộc người thứ ba.
4.2. Lỗi của người bị thiệt hại
Có trường hợp sự thiệt hại xảy ra là do lỗi của người bị thiệt hại. Ví dụ, ngân hàng tiến hành chi trả một hối phiếu trong khi người ký phát hối phiếu đã làm đầy đủ thủ tục ngăn chặn việc chi trả theo đúng pháp luật; thợ sửa xe tự ý tiến hành một công việc sửa chữa một hỏng hóc kỹ thuật do mình phát hiện, trong khi chủ xe lại không yêu cầu,...
BLDS không xác định rõ ràng cách giải quyết vấn đề trong trường hợp này. Điều đó có nghĩa là, về mặt lý thuyết người bị thiệt hại mà tạo ra lợi ích để người khác thụ hưởng mà không có căn cứ có quyền yêu cầu hoàn trả ngay cả trong trường hợp thiệt hại gây ra do lỗi của mình.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ chế độ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, khoản 2 Điều 584 BLDS quy định, người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc luật có quy định khác. Nếu áp dụng phương pháp suy lý để phân tích câu chữ của các điều luật có liên quan, thì có thể thừa nhận rằng một khi người bị thiệt hại có lỗi thì người hưởng lợi không có nghĩa vụ hoàn trả phần tài sản, lợi ích thu được tương ứng với phần lỗi đó.
5. Nghĩa vụ hòa trả tài sản
Một khi việc chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật hoặc tình trạng được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật được ghi nhận, thì người được lợi có nghĩa vụ hoàn trả. Luật Việt Nam hiện hành không phân biệt nội dung nghĩa vụ hoàn trả tuỳ theo trường hợp và thể hiện thành các điều luật riêng biệt, như trong luật của Pháp. Tuy nhiên, trong các quy định liên quan, luật có những quy định riêng áp dụng cho trường hợp này hoặc trường hợp kia mỗi khi cần thiết.
5.1. Hoàn trả tài sản gốc
Việc hoàn trả tài sản gốc được quy định tại Điều 580 BLDS.
“Điều 580. Tài sản hoàn trả
1. Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả toàn bộ tài sản đã thu được.
2. Trường hợp tài sản hoàn trả là vật đặc định thì phải hoàn trả đúng vật đó; nếu vật đặc định đó bị mất hoặc hư hỏng thì phải đền bù bằng tiền, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
3. Trường hợp tài sản hoàn trả là vật cùng loại, nhưng bị mất hoặc hư hỏng thì phải trả vật cùng loại hoặc đền bù bằng tiền, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
4. Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả khoản lợi về tài sản đó cho người bị thiệt hại bằng hiện vật hoặc bằng tiền”.
Trên thực tế, có trường hợp người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ cho người không có quyền. Ví dụ điển hình là người mắc nợ trả tiền nhầm cho người không phải là chủ nợ. Tất nhiên, theo tinh thần của khoản 1 Điều 580 BLDS, nếu nhận nhầm thì phải hoàn trả. Vấn đề là liệu chủ nợ có quyền yêu cầu thẳng đối với người nhận nhầm, hay người này phải hoàn trả cho người trả nhầm, rồi người trả nhầm sẽ trả cho chủ nợ? Trong khung cảnh luật hiện hành, không có cơ sở để thực hiện một quyền yêu cầu trực tiếp như thế, bởi người nhận nhầm không nợ gì đối với chủ nợ chưa được trả nợ...
Mặt khác, có trường hợp người không mắc nợ lại trả nhầm cho chủ nợ trong khi người mắc nợ đích thực lại chưa trả. Trong khung cảnh của luật hiện hành, dường như người trả nhầm có hai lựa chọn: hoặc yêu cầu chủ nợ hoàn trả lại cho mình số tiền đã trả nhầm áp dụng quy định về chiếm hữu, sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật; hoặc áp dụng chế định được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật để yêu cầu người mắc nợ đích thực hoàn trả. Tuy nhiên, lựa chọn thứ hai có thể khó thực hiện: người mắc nợ có thể không hiểu tại sao mình bị một người lạ đòi nợ và từ chối trả nợ. Muốn người mắc nợ chấp nhận trả, thì chủ nợ phải thông báo cho người mắc nợ về việc đã nhận chi trả từ người lạ đó. Khi ấy, việc người lạ đòi nợ có thể được hiểu là việc người này thực hiện quyền đòi nợ đã được chuyển giao từ chủ nợ cho mình.
5.2. Hoàn trả hoa lợi, lợi tức
Một cách hợp lý, người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả không chỉ tài sản gốc mà cả hoa lợi, lợi tức gắn với tài sản đó.
“Điều 581. Nghĩa vụ hoàn trả hoa lợi, lợi tức
1. Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật và không ngay tình thì phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
2. Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình thì phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm người đó biết hoặc phải biết việc chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này”.
Trường hợp ngay tình thì người chiếm hữu, sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật không phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được trong thời gian sự ngay tình còn tồn tại. Một khi sự ngay tình chấm dứt, thì người này không còn tư cách để giữ lại cho mình hoa lợi, lợi tức gắn với tài sản.
5.3. Trường hợp tài sản được chuyển giao cho người thứ ba
Tình huống dự kiến là có một tài sản được chuyển giao nhầm, sau đó người nhận nhầm lại chuyển giao tài sản cho người thứ ba do hiệu lực của một giao dịch, ví dụ như bán tài sản. Theo quy định của BLDS, chủ thể có quyền đối với tài sản có quyền yêu cầu người thứ ba hoàn trả tài sản.
“Điều 582. Quyền yêu cầu người thứ ba hoàn trả
Trường hợp người chiếm hữu, người sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật đã giao tài sản cho người thứ ba thì khi bị chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản yêu cầu hoàn trả, người thứ ba có nghĩa vụ hoàn trả tài sản đó, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác; nếu tài sản đó đã được trả bằng tiền hoặc có đền bù thì người thứ ba có quyền yêu cầu người đã giao tài sản cho mình bồi thường thiệt hại”.
Trong các trường hợp người thứ ba ngay tình được quyền giữ lại tài sản, thì chủ sở hữu tài sản bị chiếm hữu, sử dụng không có căn cứ pháp luật chỉ có quyền yêu cầu người chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật hoàn trả giá trị của tài sản và, tuỳ tình huống, bồi thường thiệt hại.
“Điều 583, Nghĩa vụ thanh toán
Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản, người bị thiệt hại được hoàn trả tài sản thì phải thanh toán chi phí cần thiết mà người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình đã bỏ ra để bảo quản, làm tăng giá trị của tài sản”.
Cấn nhấn mạnh rằng, chỉ trong trường hợp ngay tình, người chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật mới có quyền yêu cầu thanh toán chi phí. Người không ngay tình mà đã bỏ chi phí trong thời gian chiếm hữu, sử dụng tài sản thì không có quyền yêu cầu đó. Điều này cũng có nghĩa là người có tài sản bị chiếm hữu, sử dụng mà không có căn cứ pháp luật, người bị thiệt hại do người khác được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật, đến lượt mình, lại được lợi trong khi người khác bị thiệt hại. Tuy nhiên, trường hợp được lợi này là có căn cứ tại chính Điều 582 đã dẫn. Vả lại, có thể coi việc không thừa nhận quyền yêu cầu thanh toán cho người chiếm hữu, sử dụng hoặc được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật và không ngay tình như một biện pháp chế tài đối với người này.
Dẫu sao, nếu người có tài sản bị chiếm hữu, sử dụng không có căn cứ pháp luật, người bị thiệt hại do người khác được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật tự nguyện thanh toán cho người chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật, thì người này có quyền, thậm chí có đủ chính danh để nhận khoản thanh toán đó.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập