1. Nguồn nguy hiểm cao độ

Tại khoản 1 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 chỉ liệt kê những loại tài sản là nguồn nguy hiểm cao độ, mà không đưa ra khái niệm mang tính khái quát về nguồn nguy hiểm cao độ. Cụ thể điều luật như sau:

"Điều 601. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định..."

Trong khái niệm này, nhà làm luật đã xây dựng khái niệm vẫn theo hướng liệt kê một số nguồn nguy hiểm cao độ, nhưng sự liệt kê lại không thống nhất về nội hàm của các thuật ngữ.

Ta có thể thấy rằng sự hoạt động của tài sản nói chung, hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ nói riêng có thể chịu sự tác động hoặc không chịu sự tác động của con người. Tức là ngay cả khi con người “không vận hành” hoặc “không cho chúng hoạt động” thì bản thân nguồn nguy hiểm cao độ vẫn có những hoạt động “tự thân” ở bên trong, cùng với tác động của môi trường tự nhiên vẫn có thể gây ra thiệt hại. Ví dụ, các chất cháy, chất nổ gặp điều kiện tự nhiên thuận lợi có thể tự bốc cháy, phát nổ mà không cần con người sử dụng bất cứ loại chất xúc tác nào tác động vào chúng.

Trân trọng!

 

2. Trách nhiệm bồi thường của người được giao chiếm hữu, sử dụng 

Những quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trong Bộ luật dân sự năm 2015 sự kế thừa hoàn toàn quy định trong Bộ luật dân sự trước đó.

Thực tế cho thấy, người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có thể là người được giao thông qua một giao dịch dân sự, hoặc có thể thông qua một quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, quyết định của người sử dụng lao động,...

Như vậy có một vấn đề đặt ra là người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo căn cứ nào thì phải bồi thường thiệt hại khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại? Hiện nay tại Bộ luật dân sự năm 2015 không quy định cụ thể, Tuy nhiên tại Nghị quyết 03/2006 lại có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này.

Theo hướng dẫn tại điểm đ tiểu mục 2 mục III Nghị quyết này, người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra phải là người được giao thông qua một giao dịch.

Như vậy, chỉ những người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ thông qua giao dịch dân sự mới phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại.

Rại sao lại như vậy? ta có thể hiểu bởi vì, khi được chuyển giao, những chủ thể này được quản lý, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo ý chí của mình. Mặc dù phạm vi chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ vẫn phụ thuộc vào thỏa thuận của các bên và phải tuân theo quy định của pháp luật một cách nghiêm ngặt, nhưng bản thân người được giao thông qua giao dịch được quyền khai thác công dụng của nguồn nguy hiểm cao độ đó để phục vụ cho các nhu cầu của mình. Người được giao quản lý, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ thông qua một quyết định của cơ quan nhà nước hoặc người sử dụng lạo động sẽ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Bởi vì, việc quản lý, sử dụng của họ trong trường hợp này phải tuân theo quy định của cơ quan, tổ chức đã giao quyền quản lý, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ đó. Hơn nữa, việc quản lý, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trong trường hợp này nhằm đem lại lợi ích cho cơ quan, tổ chức chứ không mang lại lợi ích cho người chiếm hữu, sử dụng.

 

3. Chuyển giao hợp pháp hay không ảnh hưởng như thế nào đến trách nhiệm bồi thường?

Có thể phân tích rõ hơn, liên quan đến việc chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cho người khác, có một vấn đề cũng cần xác định là việc chuyển giao nguồn nguy hiểm cao độ này là hợp pháp hay không họp pháp cũng sẽ ảnh hưởng như thế nào đến việc xác định chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là chủ sở hữu hay người được chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng.

Theo hướng dẫn trong Nhị quyết 03/2006 quy định:

“Trong trường hợp chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiếm cao độ không theo đúng quy định của pháp luật mà gây thiệt hại, thì chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại”.

Để giải thích cho quy định này, trong Nghị quyết đã đưa ra ví dụ sau: “chủ sở hữu biết người đó không có bằng lái xe ô tô, nhưng vẫn giao quyền chiếm hữu, sử dụng cho họ mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại”.

Đối với ví dụ trên có đôi khi không phù hợp, bởi vì ví dụ đang đề cập tới trường hợp thiệt hại do hành vi sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, mà không phải do tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại. Nếu cách giải thích này được áp dụng trong trường hợp thiệt hại do hành vi gây ra để buộc chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại là hoàn toàn phù hợp. Bởi vì, chủ sở hữu trong ví dụ này được xác định là vi phạm điều cấm của luật tại khoản 10 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ, cụ thể: “Cấm giao xe cơ giới, xe máy chuyên dùng cho người không đủ điều kiện để điều khiển xe tham gia giao thông đường bộ”. Đồng thời, sự vi phạm này là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại."

Nếu cách giải thích này áp dụng cả với trường họp thiệt hại hoàn toàn do tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thì không phù hợp.

Ví dụ: A là chủ sở hữu xe ô tô đã cho B mượn để sử dụng, mặc dù đã lái rất thạo nhưng B chưa có giấy phép lái xe, sau đó xe bị nổ lốp gây thiệt hại cho C. Trong ví dụ này, mặc dù việc A giao xe cho B là vi phạm điều cấm như đã nói ở trên, nhưng thiệt hại xảy ra không phải là hậu quả của việc A giao xe cho B (hành vi vi phạm của A không gây ra thiệt hại), mà thiệt hại xảy ra là do hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ gây ra (tức là không ai có lỗi đối với thiệt hại của C).

Theo như những phân tích ở trên, nếu chủ thể không có lỗi thì khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, ai có quyền chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ sẽ phải bồi thường thiệt hại. Do đó, trong trường hợp này, không thể buộc A phải bồi thường thiệt hại cho C, mà B là người phải bồi thường cho C, vì B đang được quyền khai thác công dụng của nguồn nguy hiểm cao độ để phục vụ cho các lợi ích của mình.

Trân trọng!

 

4. Trách nhiệm của người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ

Theo quy định tại khoản 2, 3 và 4 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

"Điều 601. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

...

2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

3. Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại."

Như vậy, trách nhiệm của người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng giống như trách nhiệm của chủ sở hữu.

Tức là họ phải chịu trách nhiệm ngay cả khi không có lỗi trong việc quản lý. Đồng thời, họ cũng phải liên đới bồi thường thiệt hại nếu có lỗi để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại. Như vậy, cơ sở trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người được giao chiếm hữu, sử đụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng xuất phát từ sự vi phạm trong việc quản lý nguồn nguy hiểm cao độ, hoặc từ lẽ công bằng trong việc hưởng lợi và gánh chịu thiệt hại.

 

5. Trường hợp người được giao chiếm hữu, sử dụng không có lỗi, không được hưởng lợi ích thì có bồi thường?

Trên thực tế, có một câu hỏi đặt ra không phải mọi trường hợp, người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ đều được hưởng lợi ích từ việc chiếm hữu, sử dụng đó (ví dụ người trông giữ). Tuy nhiên, khi nguồn nguy hiếm cao độ gây thiệt hại mà người được giao chiếm hữu, sử dụng không có lỗi, đồng thời họ không được hưởng lợi ích thì họ vẫn phải bồi thường thiệt hại hay sẽ không phải bồi thường, nếu vẫn bồi thường liệu điều đó có đảm bảo được sự phù hợp và thỏa đáng không?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015, khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, việc chủ sở hữu hay người được giao chiếm hữu, sử dụng phải bồi thường thiệt hại còn căn cứ vào sự thỏa thuận của các bên.

"Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."

Như vậy, thông qua quá trình thỏa thuận, người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ hoàn toàn có thể đưa ra nguyên tắc xác định chủ thể phải bồi thường thiệt hại khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại mà mình không có lỗi.

Thông qua thỏa thuận này, người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có thể loại trừ trách nhiệm bồi thường của mình khi nguồn nguy hiểm cao độ mà mình chiếm hữu, sử dụng gây thiệt hại cho người thứ ba.

Do đó, việc người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường ngay cả khi không có lỗi cũng phụ thuộc vào ý chí của họ (được quyền thể hiện ý chí trong quá trình thỏa thuận), nên việc họ phải bồi thường thiệt hại ngay cả khi không có lỗi vẫn hoàn toàn đảm bảo được lẽ công bằng.

Trân trọng!