1. Cho thuê tài khoản ngân hàng có là hành vi vi phạm pháp luật không?

Hiện nay, lợi dụng tình hình kinh tế có nhiều khó khăn và nhiều người dân thiếu hiểu biết về pháp luật nên không nhận diện được thủ đoạn tội phạm nên đã có nhiều đối tượng lôi kéo, dẫn dụ thuê mướn để sử dụng thông tin, giấy tờ cá nhân đăng ký mở tài khoản ngân hàng. 

Sau đó, các đối tượng này thu mua lại các số tài khoản này với giá trị từ 500 nghìn đồng đến 01 triệu đồng nhưng lại yêu cầu người bán tài khoản gửi các giấy tờ liên quan qua đường xe khách, bưu điện đến địa điểm đối tượng cung cấp trước đó mà hoàn toàn không gặp mặt, không tiếp xúc trực tiếp. 

Ngoài ra, phổ biến hiện này là có rất nhiều người được thuê mở tài khoản vì hoàn cảnh khó khăn, không biết việc mình mở tài khoản để bán, cho thuê, cho mượn là vi phạm pháp luật. Phần lớn, các đối tượng chủ mưu các đường dây lừa đảo là người nước ngoài, cấu kết với các đối tượng người Việt Nam phân công việc tìm người cung cấp số tài khoản để nhận tiền lừa đảo, mỗi số tài khoản thuê thì đối tượng trả công từ 500 nghìn đồng đến 700 nghìn đồng.

Hay có những trường hợp đối tượng sử dụng thông tin cá nhân của người khác để làm giả Chứng minh nhân dân/ Căn cước công dân nhằm phục vụ cho việc đăng ký mở tài khoản với mục đích lừa đảo. Khi có những vụ việc xảy ra, qua xác minh, làm việc với chủ đăng ký tài khoản mới nhận biết được là đối tượng thay đổi Chứng minh nhân dân/ Căn cước công dân để đăng ký, người bị sử dụng thông tin cá nhân chưa mở tài khoản ngân hàng lần nào.

Như vậy, có thể thấy, hành vi người dân mua bán, cho thuê, cho mượn số tài khoản ngân hàng được xác định là hành vi vi phạm pháp luật. Và ngoài ra, nếu việc cho thuê, cho mượn số tài khoản ngân hàng để đối tượng khác thực hiện hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì cũng được xác định là hành vi vi phạm pháp luật. 

2. Xử phạt vi phạm hành chính đối với việc cho thuê tài khoản ngân hàng

Căn cứ vào các khoản 5, khoản 9, khoản 10 Điều 26 Nghị định 88/2019/NĐ-CP, được sửa đổi bởi điểm c khoản 15 Điều 1 Nghị định 143/2021/NĐ-CP thì đối với hành vi vi phạm về hoạt động thanh toán sẽ bị phạt tiền từ 40 triệu đồng đến 50 triệu đồng nếu thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau:

- Thuê, cho thuê, mượn, cho mượn tài khoản thanh toán, mua, bán thông tin tài khoản thanh toán với số lượng từ 01 tài khoản thanh toán đến dưới 10 tài khoản thanh toán mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự;

- Làm giả chứng từ thanh toán khi cung ứng, sử dụng dịch vụ thanh toán mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Hình thức xử phạt bổ sung được áp dụng là tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, điểm b khoản 5 và điểm c, d khoản 6 Điều này.

Ngoài ra, các biện pháp khắc phục hậu quả có thể được áp dụng là:

- Buộc nộp vào ngân sách nhà nước số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 4, khoản 5, khoản 6, khoản 7 và khoản 8 Điều này;

- Không cho mở rộng phạm vi, quy mô và địa bàn hoạt động trong thời gian chưa khắc phục xong vi phạm đối với hành vi vi phạm quy định tại các điểm a, c, d khoản 6, điểm c khoản 7 và điểm a khoản 8 Điều này;

- Đề nghị cấp có thẩm quyền thu hồi văn bản chấp thuận hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán không qua tài khoản thanh toán của khách hàng đối với hành vi vi phạm tại điểm đ khoản 6 Điều này.

Bên cạnh đó, khoản 4 Điều 3 Nghị định 88/2019/NĐ-CP quy định mức phạt tiền và thẩm quyền phạt tiền, theo đó:

- Mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng đối với tổ chức vi phạm là 2.000.000.000 đồng và đối với cá nhân vi phạm là 1.000.000.000 đồng;

- Mức phạt tiền quy định tại Chương II Nghị định này là mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân; mức phạt tiền đối với tổ chức có cùng một hành vi vi phạm hành chính bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân;

- Mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm của cá nhân là người làm việc tại quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô bằng 10% mức phạt tiền quy định tại Chương II Nghị định này; mức phạt tiền đối với quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô, đơn vị phụ thuộc của các tổ chức này bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân là người làm việc tại quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô;

- Thẩm quyền phạt tiền của từng chức danh quy định tại Chương III Nghị định này là thẩm quyền phạt tiền áp dụng đối với cá nhân. Thẩm quyền phạt tiền áp dụng đối với tổ chức bằng 02 lần thẩm quyền phạt tiền áp dụng đối với cá nhân.

Như vậy, khi có hành vi vi phạm là cho thuê tài khoản ngân hàng từ 01 đến dưới 10 số và chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì cá nhân có thể bị phạt tiền từ 40 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Ngoài ra, cá nhân này còn bị áp dụng hình phạt bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng và còn bị buộc nộp vào ngân sách nhà nước số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm. Đối với tổ chức thực hiện hành vi vi phạm thì mức phạt sẽ gấp đôi là từ 80 triệu đồng đến 100 triệu đồng.

3. Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với việc cho thuê hàng trăm số tài khoản ngân hàng

Căn cứ tại Điều 291 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì có quy định pháp luật về việc xử lý tội thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng. Cụ thể như sau:

- Người nào thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác với số lượng từ 20 tài khoản đến dưới 50 tài khoản hoặc thu lợi bất chính từ 20 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng, thì bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

- Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 200 triệu đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

+ Thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác với số lượng từ 50 tài khoản đến dưới 200 tài khoản;

+ Có tổ chức;

+ Có tính chất chuyên nghiệp;

+ Thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng;

+ Tái phạm nguy hiểm.

- Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200 triệu đồng đến 500 triệu đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

+ Thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác với số lượng 200 tài khoản trở lên;

+ Thu lợi bất chính 200 triệu đồng trở lên.

- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy, nếu số lượng số tài khoản ngân hàng được cho thuê ở đây lên tới hàng trăm số thì có khả năng bị truy cứu hình sự. Và tùy theo số lượng tài khoản cụ thể là bao nhiêu và số tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán tài khoản mà người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 100 triệu đồng trở lên hoặc phạt tù có thời hạn từ 03 tháng đến 07 năm. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Ngoài ra, quý khách có thể tham khảo thêm về bài viết của Luật Minh Khuê như sau: 

Mua bán, cho thuê tài khoản ngân hàng bị xử lý thế nào ?

Mọi vướng mắc chưa rõ hoặc có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng. Ngoài ra, khách hành cũng có thể liên hệ trực tiếp với các luật sư của Luật Minh Khuê để được giải đáp các vấn đề liên quan đến: Luật sư Bùi Thị Nhung qua số điện thoại: 0931626162. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.