Luật sư tư vấn:

Cho vay tiền không có giấy tờ là một trong những hiện tượng khá phổ biến hiện nay dựa vào sự tín nhiệm giữa người thân, người quen hoặc bạn bè thân thiết. Tuy nhiên, khi có tranh chấp xảy ra, rất nhiều người lo lắng, quan tâm về việc có đòi lại được tiền khi cho vay không có giấy tờ chứng minh. 

Dưới góc độ pháp lý, trong trường hợp hai bên có quan hệ vay nợ lẫn nhau nên giải quyết thông qua thỏa thuận hoặc thông qua con đường tòa án thay vì đơn phương thực hiện hành vi lấy đi tài sản của người vay để trừ nợ.

Pháp luật tố tụng dân sự quy định rằng, trong trường hợp hai bên có quan hệ vay nợ lẫn nhau và các bên không thỏa thuận thời gian, thời hạn trả nợ cũng như số nợ phải trả, số lãi phải trả thì bên cho vay có thể yêu cầu tòa án giải quyết.

 

1. Quy định của pháp luật về hợp đồng vay tài sản

Theo từ điển Tiếng Việt thì vay là hoạt động nhận tiền hay vật gì của người khác để chi dùng trước với điều kiện sẽ trả tương đương hoặc có thêm phần lãi. Dưới góc độ tín dụng, "Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi" (Khoản 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi năm 2017)

Theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 463. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay tài sản cho bên vay, khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Định nghĩa này đã chứa đựng chủ thể của hợp đồng vay bao gồm bên cho vay và bên vay, đồng thời nghĩa vụ chính của mỗi chủ thể. Quy định này cũng cho thấy, hợp đồng vay bao gồm hợp đồng vay có lãi và hợp đồng vay không có lãi. Hợp đồng vay tài sản là loại hợp đồng phổ biến trên thực tế, được xác lập hằng ngày, hàng giờ cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội.

Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng có mục đích chuyển quyền sở hữu đối với tài sản. Thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản là thời điểm bên vay nhận tài sản đó. Khi bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay, bên vay sẽ có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt số tài sản đã vay, trừ trường hợp có điều kiện của bên cho vay về việc sử dụng tài sản.

 

2. Nghĩa vụ của bên vay

Nghĩa vụ trả nợ của bên vay được quy định cụ thể tại điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

- Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vạt cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

- Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo giá trị của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

- Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

- Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ Luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

- Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả thì còn phải trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

 

3. Hướng xử lý khi bên vay tiền không hoàn trả số tiền cho vay

Trên thực tế, có rất nhiều trường hợp bên vay không hoàn trả lại tiền hoặc vật chất cho bên cho vay khi đến hạn, nhất là những trường hợp bên cho vay tiền không có giấy tờ chứng minh giao dịch đó do quá tin tưởng hoặc chủ quan, không xác lập hợp đồng bằng văn bản.

Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 119 Bộ Luật dân sự 2015 về hình thức của giao dịch dân sự thì hợp đồng cho vay tài sản có thể được xác lập bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản. Vì vậy, trường hợp cho vay tiền không có giấy tờ chứng minh như hợp đồng cho vay thì giao dịch vẫn có hiệu lực pháp luật nếu được giao kết bằng miệng hoặc hành vi cụ thể của các bên.

Khi bên vay tiền không hoàn trả số tiền cho vay khi đến hạn, bên cho vay có thể áp dụng các biện pháp như sau:

- Thỏa thuận với bên vay về việc kéo dài thời hạn trả nợ.

- Nếu hai bên không thỏa thuận được, bên vay có thể gửi đơn khởi kiện ra Tòa. Trong trường hợp bên cho vay không có giấy tờ chứng minh giao dịch thì phải bằng mọi cách chứng minh được việc cho vay như bản ghi âm, ghi hình cuộc nói chuyện khi cho vay, lời khai của người làm chứng hoặc xác nhận của bên vay qua email, tin nhắn điện thoại, phương tiện điện tử khác... để làm căn cứ khởi kiện, giải quyết tranh chấp trước tòa án.

- Nếu bên vay có hành vi trốn tránh nghĩa vụ trả nợ nhằm chiếm đoạt tài sản thì bên cho vay có thể tố giác đến cơ quan công an về tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

Tuy nhiên, trên thực tế để giải quyết các tranh chấp các tranh chấp liên quan đến cho vay tiền không có giấy tờ chứng minh gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy, bên cho vay tiền nên xác lập hợp đồng vay bằng văn bản để có bằng chứng chứng minh, đảm bảo cho việc đòi nợ về sau.

Từ những phân tích ở trên, cho vay tiền nhưng không có giấy tờ chỉ có đoạn tin nhắn thì có được xác định là hợp đồng vay tài sản hợp pháp hay không?

Tại điều 119 Bộ luật dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về hình thức giao dịch dân sự như sau:

- Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.

- Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.

Đồng thời, theo điều 10 Luật Giao dịch điện tử 2005 quy định hình thức thể hiện thông điệp dữ liệu được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác.

Tại Bộ luật Dân sự 2015 không yêu cầu hình thức cụ thể của hợp đồng vay tài sản. Do đó, hợp đồng vay tài sản có thể được lập thành bằng văn bản, thể hiện qua lời nói hoặc hành vi cụ thể. Đối chiếu quy định trên, như vậy, trường hợp của bạn cho vay tiền dưới hình thức tin nhắn vẫn xác định được đó là hợp đồng vay tài sản và có quyền đòi nợ. Chứng cứ ở đây là đoạn tin nhắn bạn cho người bạn của bạn vay tiền đã xác lập giao dịch và thời hạn vay tiền của người bạn của bạn hứa bao lâu sẽ trả.

Đoạn tin nhắn vay tiền có được xem là nguồn chứng cứ khi đi khởi kiện đòi tiền không?

Theo điều 93 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về chứng cứ như sau:

Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật đương sự và cơ quan tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án dử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp.

Bên cạnh đó, tại Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cũng quy định chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:

- Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử.

- Vật chứng.

- Lời khai của đương sự.

- Lời khai của người làm chứng.

- Kết luận giám định. 

- Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ.

- Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản.

- Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập.

- Văn bản công chứng, chứng thực.

- Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.

Qua đó, có thể hiểu chứng cứ trong vụ việc dân sự được hiểu là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục.

Như vậy, đoạn tin nhắn vay tiền được xem là nguồn chứng cứ khi khởi kiện đòi tiền cho vay qua tin nhắn.

Trên đây là toàn bộ bài viết mà Luật Minh Khuê muốn cung cấp đến bạn đọc tham khảo. Nếu có thắc mắc vui lòng liên hệ tới tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến hotline 1900.6162 để được luật sư pháp luật tư vấn trực tiếp. Xin chân thành cảm ơn !