1. Phải làm gì để lấy lại tiền cho vay không trả ?

Thưa luật sư tháng 12/2016 tôi có cho hàng xóm vay số tiền 80 triệu đồng có làm giấy viết tay chỉ ghi tên người mượn và người cho vay chứ ko ghi rõ số chứng minh. Hôm nay là tháng 7/2018 người hàng xóm trở mặt ko muốn trả tiển gốc lại cho tôi nữa và đang kêu bán nhà. Nhưng đi nói với mẹ tôi là bán nhà xong thích thì trả ko thì thôi ko năn nỉ gì hết.
Cho tôi hỏi tôi phải làm gì kiện ra toà để khi nào người hàng xóm bán được nhà phải trả lại tiền cho tôi. Tôi sợ ko kiện thì người hàng xóm bán nhà xong sẽ ôm tiền bỏ đi nơi khác sống ?
Mong nhận được hồi âm của luật sư.
- Dương Thị A

Luật sư trả lời:

Thứ nhất: Trường hợp của chị là đã cho người hàng xóm vay tiền, đồng thời có giấy vay nợ chứng minh điều đấy là thật. Nếu anh hàng xóm không thiện chí trả nợ gốc cũng như lãi suất theo thỏa thuận thì chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Chị có thể khởi kiện dân sự kiện đòi tài sản buộc người hàng xóm phải có trách nhiệm trả tiền lại cho chị đúng số lượng tiền gốc cũng như tiền lãi theo lãi suất ngân hàng nhà nước. Ở đây không nhất thiết là chị phải giao kết thỏa thuận có chứng nhận của chính quyền mà chỉ cần thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật và đức xã hội là thỏa mãn điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận dân sự theo Bộ luật dân sự năm 2015.

"Điều 280. Thực hiện nghĩa vụ trả tiền

1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận.

2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."

Thứ hai: Từ những lời nói thể hiện ý chí của người hành xóm có thái độ trở mặt và muốn chối bỏ trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ thì chị hoàn toàn có thể trình báo cơ quan công an hoặc gửi đơn yêu cầu khởi tố người hàng xóm này tới Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan công an điều tra cấp huyện về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 :

"Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Theo nguyên tắc giải quyết dân sự theo pháp luật của Việt Nam thì luôn khuyến khích và tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, đồng thời không hình sự hóa các vấn đề dân sự. Vậy nên trong trường hợp này chị có thể thỏa thuận lại với người hàng xóm nếu không thỏa thuận được thì chị hoàn toàn có quyền đưa sự việc ra trước pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của chị, đồng thời pháp luật sẽ có mức hình phạt đối với người phạm tội.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất như thế nào ? Quyền định đoạt tài sản

2. Rút tiền từ tài khoản của người vay nợ có phạm hình sự ?

Tôi có cho anh bạn vay 200 triệu đồng và 2 bên có viết văn bản bằng tay và có chữ ký của 2 bên. Tuy nhiên trong thời gian vay tôi, công ty của anh có làm ăn phi pháp và anh ấy bị công an bắt, lúc anh bị bắt thì tôi là người chứng kiến nên công an khám xét giữ giấy tờ liên quan, riêng thẻ ATM và một số giấy tờ khác thì công an gửi lại tôi để mang về cho gia đình anh.

Biết mình còn nợ tiền tôi anh có ghi lại cho tôi mật khẩu của thẻ ATM để tôi rút tiền ra. Trong quá trình điều tra cán bộ công an có kết hợp với ngân hàng in sao kê số tiền mà tôi rút sau khi anh bị bắt và yêu cầu tôi gửi giấy tờ chứng minh số tiền tôi rút.

Hiện tai tôi đang giữ 2 tờ vay nợ trên, trường hợp tôi rút tiền có vi phạm pháp luật không ? Và nếu vi phạm tôi sẽ bị xử lý thế nào ? Có phải hoàn lại số tiền tôi đã rút cho công an điều tra không ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Đ.T.H

Theo quy định tại Điều 128 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 về kê biên tài sản:

Điều 128. Kê biên tài sản
1. Kê biên tài sản chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tiền hoặc có thể bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại.
2. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra lệnh kê biên tài sản. Lệnh kê biên của những người được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp trước khi thi hành.
3. Chỉ kê biên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị phạt tiền, bị tịch thu hoặc phải bồi thường thiệt hại. Tài sản bị kê biên được giao cho chủ tài sản hoặc người quản lý hợp pháp hoặc người thân thích của họ bảo quản. Người được giao bảo quản mà có hành vi tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, hủy hoại tài sản bị kê biên thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.
4. Khi tiến hành kê biên tài sản phải có mặt những người:
a) Bị can, bị cáo hoặc người đủ 18 tuổi trở lên trong gia đình hoặc người đại diện của bị can, bị cáo;
b) Đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi có tài sản bị kê biên;
c) Người chứng kiến.
Người tiến hành kê biên phải lập biên bản, ghi rõ tên và tình trạng từng tài sản bị kê biên. Biên bản được lập theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này, đọc cho những người có mặt nghe và cùng ký tên. Ý kiến, khiếu nại của những người quy định tại điểm a khoản này liên quan đến việc kê biên được ghi vào biên bản, có chữ ký xác nhận của họ và của người tiến hành kê biên.
Biên bản kê biên được lập thành bốn bản, trong đó một bản được giao ngay cho người được quy định tại điểm a khoản này sau khi kê biên xong, một bản giao ngay cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi có tài sản bị kê biên, một bản gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và một bản đưa vào hồ sơ vụ án.

Như vậy số tiên ma anh đã rút từ thẻ ATM của bạn mình đã được kê biên nên anh nên giao số tiền đã rút cho người có trách nhiệm bảo quản. Hành vi rút tiền của anh chỉ vi phạm pháp luật trong trường hợp anh thực hiện hành vi sử dụng, tiêu dùng mà không không giao cho người có trách nhiệm bảo quản. Hành vi vi phạm bị xử lý theo quy định tại Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017.

>> Xem thêm:  Trình tự thủ tục khởi kiện đòi lại tài sản thừa kế làm như thế nào ? Quyền quản lý tài sản thừa kế

3. Tư vấn giải quyết hợp đồng cho vay khi người vay bỏ trốn ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: tôi hiên tại là sinh viên. Tôi muốn hỏi một số vấn đề như sau: tôi có cho 1 người bạn mượn tiền, với số tiền là 5 triệu.

Và sau nhiều lần hẹn để trả nhưng chẳng thấy tiền đâu hết, trong khi mượn chỉ nói qua miệng không có giấy tờ gì hết. Có 1 vấn đề nữa là: người bạn đó có mượn của tôi 1 laptop trị giá 10 triệu cũng trong thời gian đó. Nhưng sau nhiều lần hẹn cũng không thấy đâu. Khi người bạn đó bỏ trốn tôi mới biết được người đó còn mượn của những người khác rất nhiều tiền ước tính trị giá khoảng 20 triệu. Nhưng hiện nay người bạn đó đã bỏ trốn, nhưng không tắt máy điện thoại.

Cũng chẳng biết địa chỉ liên hệ? Bây giờ tôi đang rất hoang mang, có nên báo công an hay không, và nếu báo công an thì tôi không có chứng cứ gì thì làm sao? Và với hành vi đó thi người bạn đó sẽ bi truy cứu trách nhiệm như thế nào?

Mong quý luật sư giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: V.P

Tư vấn giải quyết hợp đồng cho vay khi người vay bỏ trốn ?

Luật sư tư vấn luật hình sự về kiện đòi tiền, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trước hết, chúng tôi muốn khẳng định với bạn rằng, hành vi của người bạn của bạn đã cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
g) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.
4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản
Xem xét trường hợp của bạn cùng với quy định của pháp luật, chúng ta nhận thấy ở đây có tồn tại một mối quan hệ mượn tài sản, sau đó, người mượn đã bỏ trốn. Cụ thể là hành vi được quy định tại điểm a nói trên. Về giá trị tài sản, như bạn cung cấp, tổng giá trị tài sản mà người này mượn của bạn là 15 triệu đồng. Như vậy là đã đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự với người này và sẽ áp dụng quy định nói trên về hình phạt.
Về việc có nên báo công an hay không chúng tôi không thể quyết định thay bạn, ý kiến tư vấn của chúng tôi là, ở thời điểm hiện tại khi bạn đã xác định được người kia đã bỏ trốn thì việc bạn có thể đi tìm và đòi lại tài sản là điều rất khó nếu không muốn nói là không thể. Nếu như muốn bảo vệ quyền lợi của mình cũng như những người khác nữa bạn có thể làm đơn tố cáo với cơ quan công an. Đó là cách hiệu quả nhất để bảo vệ quyền lợi của bạn. Tuy nhiên, khi làm đơn tố cáo bạn cũng cần phải có những tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của bạn là có căn cứ và hợp pháp. Như bạn nói là bạn không có gì để chứng minh, đó là một điều bất lợi cho bạn. Ý kiến của chúng tôi là bạn có thể tham khảo ý kiến của những người đã từng cho người kia mượn tiền và không đòi lại được, khai thác thông tin từ những người này.

>> Xem thêm:  Thủ tục phân chia di sản thừa kế như thế nào ? Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là bao lâu ?

4. Chuyển tiền cho bạn gái qua tài khoản có kiện đòi được không ?

Thưa luật sư, trước đây tôi có đi tập gym và quen một cô cũng là khách tập ở trên đấy , qua vài lần nói chuyện xã giao cô ấy có hẹn tôi đi uống cafe để nói chuyện , tôi cũng nể cô ấy là người có tuổi và đàng hoàng cho nên tôi cũng nhận lời hẹn của cô ấy, Sau buổi đi uống cafe , cô ấy có nhờ tôi là khuyên bảo con gái cô ấy vì cô ấy nói nó ko nghe lời và cho tôi số điện thoại của nó để tôi tiện liên lạc.

Vì lúc đấy tôi là người mới nên ko biết tí gì về cô ta, cũng như con gái của cô ấy là người như thế nào, cho nên tôi đã nhận lời giúp cô ấy. Tôi cũng đã gọi điện cho con gái cô ấy và chủ động hẹn mời đi uống nước, thì nó bảo vs tôi là giờ em đang bận chưa thể gặp anh được, khi nào có thời gian em sẽ liên lạc vs a sau.

Từ sau cuộc gọi đó tôi không hề gọi cho nó nữa, cho đến một hôm nó nhắn tin vào zalo của tôi với nội dung là e đang có việc cần muốn nhờ a giúp, e đang cần tiền để lấy hàng buôn bán vào dịp Tết, a có cho e mượn 10tr, đúng 1 tuần sau e sẽ trả cho a. Vì cứ nghĩ nó là con gái, với lại tôi cũng quen biết mẹ nó nên tôi đã ko nghi ngờ gì và gửi tiền cho nó qua tài khoản BIDV có chứng tờ biên lai rõ ràng, chứ tôi ko chuyển trực tiếp tiền mặt cho nó, sau khi đã chuyển cho nó 10 triệu đồng vào tài khoản, thì 4 ngày sau nó lại nhắn tin cho tôi vs nội dung là "khách chưa thanh toán tiền hàng cho e, mà e lại cần tiền để lấy thêm lô hàng mới nữa, vì vậy a gửi tiếp cho e 10 triệu, đúng 3 ngày sau e sẽ thanh toán cho a một thể.

Tôi cũng ko nghi ngờ gì và gửi tiếp cho nó 10 triệu vào tài khoản, đến ngày hẹn trả tôi liên lạc vs nó thì nó ko trả lời và tắt máy ko dùng thuê bao đấy nữa, vì vậy tôi đã đến gặp mẹ nó trình bày sự việc và cho bà ấy xem giấy tờ chuyển tiền qua ngân hàng để xác minh vs bà ấy là con gái bà ấy có vay tiền của tôi, nhưng bà ấy lại tránh né và không muốn giải quyết chuyện tiền nong với tôi và bảo với tôi là con gái bà ấy giờ bỏ trốn không ở cùng vs gia đình nữa, từ lúc tôi cho nó vay tiền tính ra là được 4 tháng rồi nhưng sự việc cứ kéo dài mãi như vậy mà chưa có phương án giải quyết, cho nên tôi muốn hỏi luật sư là: Hành vi trên có phải là lợi dụng lòng tin chiếm đoạt tài sản hay ko? và tôi có nên ra phường cư trú của nó để làm đơn khiếu nại và tố cáo hay ko? Xin luật sư hãy tư vấn giúp tôi

Tôi xin chân thành và cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Theo đó, Điều 463 quy định về hợp đồng cho vay tài sản như sau:

Điều 463. Hợp đồng vay tài sản
Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Từ các quy định trên, hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận của các bên, điều này có nghĩa là đối với hợp đồng này, các bên có thể giao kết bằng bằng văn bản, bằng lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể. Theo thông tin bạn cung cấp, bạn cho cô gái kia vay tiền thông qua việc chuyển khoản qua ngân hàng và tin nhắn điện thoại. Tới hẹn trả tiền, cô gái đó không trả và đã bỏ trốn khỏi địa phương. Hành vi của cô gái đó có thể cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.....

Bạn có thể thu thập các tài liệu gồm có chứng từ chuyển khoản (bản sao) và bản chụp các tin nhắn giao dịch của bạn và cô gái kia, sau đó làm đơn tố cáo gửi lên cơ quan công an xã, phường nơi cô gái đó đang cư trú để yêu cầu họ giải quyết.

>> Xem thêm:  Quy định mới về lãi suất trong Bộ luật dân sự hiện hành

5. Tư vấn về nghĩa vụ của người vay nợ chưa trả ?

Xin chào Luật Minh Khuê, Tôi có vấn đề xin được nhờ giải đáp về nợ vay như sau: Tôi có người nhà vay nợ khoảng 300 triệu, cách đây 10 năm nhưng do không có khả năng chi trả nên bỏ trốn. Nay người nhà tôi đã bị bắt, nên tôi muốn hỏi là:

1. Người nhà tôi sẽ phải chịu những hình thức xử lý nào theo quy định của pháp luật ?

2. Nếu tôi thanh toán đủ số tiền 300 triệu liệu người nhà tôi có được thả ra hay không ?

3. Liệu tôi có phải trả thêm tiền lãi cho khoản nợ 300 triệu không ?

Tôi xin cám ơn luật sư!

Người gửi: ocare

Tư vấn về nghĩa vụ của người vay nợ chưa trả ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Việc người nhà bạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không thì cơ quan điều tra sẽ làm rõ hành vi của người nhà bạn có đầy đủ yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiểm đoạt tài sản như đã nêu trên hay không. Nếu đầy đủ yếu tố cấu thành thì người nhà bạn bị truy cứu trách nhiệm hình sự và xử lý theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
g) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.
4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản

Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có quy định về khởi tố hình sự theo yêu cầu của người bị hại như sau:

Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.
2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

Trường hợp, người nhà bạn bị khởi tố về tội danh lừa đảo chiểm đoạt tài sản thì kể cả khi người chủ nợ kia không yêu cầu truy tố thì pháp luật hình sự vẫn truy tố người nhà bạn nếu cơ quan điều tra xác định người nhà bạn có hành vi trên.

Vì bạn không nêu rõ hợp đồng vay này có thỏa thuận về lãi suất hay không nên căn cứ Điều 477 Bộ luật dân sự 2005 quy định về thực hiện hợp đồng vay không kỳ hạn như sau:

- Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, nếu không có thoả thuận khác.

- Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản, còn bên vay cũng có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào và chỉ phải trả lãi cho đến thời điểm trả nợ, nhưng cũng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Khái niệm, nội dung, mục đích và hậu quả pháp lý của cầm cố tài sản ? Mẫu hợp đồng cầm cố