1. Kiện đòi lại khi chồng tự ý bán tài sản chung ?

Chào luật sư, Em có vấn đề muốn hỏi. Mog được luật sư giải đáp. Vợ chồng em kết hôn được ba tháng. Hai vợ chồng hay bất hòa. Xích mích. Trong 1 lần cãi nhau chồng em mang hết tài sản chung của 2 vợ chồng gồm 5 chỉ vàng trong đó có 2 chỉ của riêng em và 1 khoản tiền bỏ đi. Nay vợ chồng em không ở với nhau nữa. Em có thể đòi lại tài sản của mình được không ạ và bằng cách nào ạ ?
Cảm ơn!

Luật sư trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Đối chiếu căn cứ trường hợp trên với trường hợp của bạn để xem xét 5 chỉ vàng và khỏan tiền chồng bạn mang đi có thuộc tài sản chung của vợ chồng hay không. Khi xác định khối tài sản này thuộc tài sản chung của vợ chồng thì chồng bạn không có quyền định đoạt tài sản nếu không có sự thỏa thuận với bạn ( trừ trường hợp thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì được coi là có sự đồng ý của bên kia)

Điều 35 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định vấn đề này như sau:

Điều 35. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;

b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;

c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.

Đồng thời, tại Điều 13 Nghị định 126/2014/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết Điều 35 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

Điều 13. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng

1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận. Trong trường hợp vợ hoặc chồng xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì được coi là có sự đồng ý của bên kia, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 35 của Luật Hôn nhân và gia đình.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng định đoạt tài sản chung vi phạm quy định tại Khoản 2 Điều 35 của Luật Hôn nhân và gia đình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu.

Trong trừơng hợp chồng bạn tự ý sử dụng tài sản thuộc tài sản chung của hai vợ chồng mà không thỏa thuận với bạn và cũng không nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì bạn có quyền yêu cầu chồng trả lại tài sản này. Nếu chồng không đồng ý bạn có thể khởi kiện đến Tòa án nhân dân quận/huyện nơi chồng cư trú để được xem xét và giải quyết.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn như thế nào ?

Xin chào quý luật sư Em có một số vấn đề về "thủ tục phân chia tài sản khi ly hôn" xin được sự tư vấn của quý luật sự ạ. Ba và mẹ em li dị từ năm 2001, sau đó ba em ở chung với người khác mà không có đăng ký kết hôn, tài sản chung là căn nhà ba và dì đang ở. Tuy nhiên căn nhà mới chỉ ra bản vẽ với tên dì đứng tên trên bản vẽ. Đến năm nay 2016, ba muốn li hôn với dì.
Vậy xin quý luật sư cho em hỏi, với trường hợp đó, khi bán căn nhà, theo luật thì ba em có được phân chia căn nhà ở chung không?
Em xin chân thành cám ơn quý luật sư.

Tài sản được cho vào ngày kết hôn có phải là tài sản chung?

Luật sư tư vấn phân chia tài sản chung, tài sản riêng, gọi ngay: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất việc chung sống như vợ chồng mà không có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn thì không được công nhận là vợ chồng.

Thứ hai, về tài sản: Do không được công nhận quan hệ vợ chồng cho nên không xác định khối tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng mà chỉ được xác định là tài sản chung của các đồng sở hữu. Tài sản do ai đứng tên quyền sở hữu thì thuộc về người đó. Trường hợp do 1 bên đứng tên nhưng do cả 2 bên cùng tạo lập để có được tài sản thì bên còn lại phải chứng minh được công sức đóng góp trong quá trình tạo lập tài sản hoặc các bên sẽ tự thỏa thuận với nhau.

Xin chào Luật Sư! Tôi muốn hỏi luật sư về vấn đề mua đất. anh Tôi và chị dâu tôi đã li hôn mà hai vợ chồng có chung một cái nhà, mà hiện tại hai vợ chồng đang nợ ngân hàng, nên khi ra tòa tài sản hai vợ chồng tự thỏa thuận. Nay anh tôi bán nhà này lại cho tôi, mà tôi muốn hai vợ chồng đều ra ký giấy tờ bán đất , mà hiện tại sổ nhà đất đang đang ở ngân hàng. Tôi phải trả nợ ngân hàng mới lấy sổ đất về anh tôi sang tên cho tôi, Nhưng tôi sợ lúc tôi trả nợ ngân hàng cho anh tôi thì khi sang sổ đất cho tôi thì khi đó chị dâu tôi ở xa không về được. Vậy bay giờ có mặt chị dâu tôi, chị dâu tôi làm giấy ủy quyền hết cho anh tôi để anh tôi một mình đứng ra ký tên bán đất nhà cho tôi được không. Nếu được luật sư tư vấn cho tôi cần giấy tờ gì, hoặc làm như thế nào để chị dâu tôi ủy quyền hết lại cho anh trai tôi để việc mua bán đất diễn ra thuận lợi. Xin luật sư tư vấn giúp. Tôi xin cảm ơn.

Trường hợp của bạn muốn thực hiện được thủ tục sang tên phải được ngân hàng đồng ý. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

Điều 321. Quyền của bên thế chấp

Bên thế chấp tài sản có các quyền sau đây:

4. Được bán, thay thế, trao đổi tài sản thế chấp, nếu tài sản đó là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Trong trường hợp này, quyền yêu cầu bên mua thanh toán tiền, số tiền thu được, tài sản hình thành từ số tiền thu được, tài sản được thay thế hoặc được trao đổi trở thành tài sản thế chấp.

Như vậy, để mua được nhà đất đang thế chấp thì bạn yêu cầu bên thế chấp tới làm việc trực tiếp với Ngân hàng - bên nhận thế chấp nếu được họ chấp thuận thì người có tài sản được phép chuyển nhượng tài sản.

Khoản nợ ngân hàng phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của anh chị bạn thỏa thuận bên nào có nghĩa vụ trả nợ sau khi ly hôn thì bên có phải thực hiện. Nếu anh bạn chịu trách nhiệm về khoản nợ này thì chỉ cần anh bạn thực hiện thủ tục chuyển nhượng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và vẫn phải được sự đồng ý của ngân hàng.

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Bố mẹ ly hôn con có được chia tài sản chung của bố mẹ không ?

Em muốn hỏi: Ba của em sinh năm 1956; Mẹ em sinh năm 1960. Gần 20 mấy năm nay em đã chứng kiến cảnh Ba Mẹ không hạnh phúc vì Ba nghiện rượu hay chữi Mẹ cùng ông bà ngoại và đôi khi căn thẳng Ba đánh Mẹ. Nhà Ba Mẹ cách nhà ông bà ngoại khoảng 200m. Ông bà ngoại đã ngoài 80 tuổi không ai lo, Mẹ em tới lui chăm só.
Ba em bực về vấn đề này vì mấy cậu không lo, để Mẹ lo và một chuổi vấn đề trong cuộc sống...Ba thường xiêng uống rượu vô chữi Mẹ, chữi ông bà ngoại nói ăn bám, lúc căng thẳng đánh Mẹ, rược Mẹ đến tận nhà ông bà ngoại đánh Mẹ, rồi chữi ông bà ngoại đôi khi đánh ông ngoại. Công an địa phương nhiều lần dẫn về làm việc, và Mẹ em cũng đã nhiều lần gửi tờ tường trình sự việc xảy ra cho từng tình huống đến chính quyền địa phương và đề nghị ly hôn. Khi được địa phương mời làm việc thì Ba em nhận lỗi và hứa khắc phục, nhưng được 1 thời gian rồi tái diễn và ngày càng nghiêm trọng hơn. Nay Mẹ em không còn chịu đựng được nửa nên Mẹ em quyết định xin ly hôn. Ngay cả bản thân em cũng thế, con cái không bao giờ muốn Ba Mẹ mình vậy nhưng phải chấp nhận để Mẹ em được giải thoát và tự do lo cho ông bà ngoại. Anh tư vấn giúp em xem em phải hướng dẫn Mẹ làm sao!
Ba Mẹ em có 2 người con: Ngô Thị Kha Liênl, sinh năm 1986; em trai tên: Ngô Hoàng Anh, sinh năm 1990. 2 đứa em đều đi làm, đều chưa lập gia đình. Tài sản chung của Ba Mẹ: 20 000 m2 đất ruộng (mảnh 1); 3 000 m2 đất ruông (3000 mấy đất ruộng) (mảnh 2); 1 căn nhà. Tài sản đó chia đều cho Ba Mẹ? 2 đứa em có được chia không? Mẹ em và 2 đứa em muốn được ở cùng với Mẹ có được không?
Xin cảm ơn luật sư!
Bố mẹ ly hôn con có được chia tài sản chung của bố mẹ không?

Trả lời

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chuyên mục tư vấn pháp luật của công ty chúng tôi. Câu hỏi của bạn được chúng tôi trả lời như sau:

Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:

"2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch."

Theo quy định trên, việc phân chia tài sản chung vợ chồng khi ly hôn chỉ đặt ra giữa vợ và chồng, không đặt ra đối với con cái. Vậy cho nên, bạn và em trai bạn sẽ không được phân chia tài sản chung của bố mẹ khi bố mẹ bạn ly hôn.

Về vấn đề bạn và em bạn có quyền ở với ai?

Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:

"2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con."

Vậy cho nên, nếu bạn và em bạn đều có nguyện vọng ở với mẹ thì Tòa sẽ trao quyền trực tiếp nuôi con cho mẹ bạn.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

4. Hướng dẫn giải quyết tranh chấp tài sản chung ?

Ông T. chung sống với bà K. từ năm 1976, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Theo Nghị quyết số 35 năm 2000 của Quốc hội, quan hệ của họ là hôn nhân thực tế. Năm 2004, họ từng ra tòa ly hôn nhưng sau khi được tòa hòa giải thành thì họ đã quay về đoàn tụ. Ba năm sau, ông T. lại nộp đơn đòi ly hôn vợ.

Do ký tên xác nhận căn nhà là của vợ nên người chồng mất quyền đối với tài sản chung.

Xuất hiện bà vợ “qua đường”

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T. hoảng hồn khi hội đồng xét xử xác định ông và bà K. không phải là vợ chồng. Bởi lẽ trước khi sống với bà K., ông đã chung sống và có con với người phụ nữ khác. Ông chưa ly hôn với bà này nên quan hệ giữa ông và bà K. là bất hợp pháp. TAND quận Gò Vấp không công nhận ông T. và bà K. là vợ chồng.

Ông T. phản ứng: “Năm 1972, tôi có cặp bồ và làm một phụ nữ có thai. Đó là chuyện đã qua của thời trai trẻ của tôi. Cô ấy đã chết sau ngày giải phóng, làm sao mà tôi ly hôn được!”.

Phúc thẩm vụ án hồi tháng 3-2008, TAND TP.HCM viện dẫn Thông tư số 690 năm 1960 của TAND tối cao và xác định quan hệ giữa ông T. và bà K. không vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Họ là vợ chồng hợp pháp. Vì đời sống chung của họ có mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cấp phúc thẩm giải quyết cho họ được ly hôn.

Chồng tự ý bán  tài sản chung của 2 vợ chồng thì vợ có thể kiện đòi lại được không ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Mất quyền vì bản cam kết

Tài sản lớn nhất hai bên tranh chấp là căn nhà tại quận Gò Vấp. Ông T. bảo đây là tài sản chung vợ chồng tích cóp mãi mới có được, yêu cầu chia đôi. Bà K. lại nhận căn nhà là của riêng mình. Bằng chứng là giấy tờ nhà đất đều do một mình bà đứng tên. Hơn nữa, chính ông T. đã ra Phòng Công chứng số 5 vào cuối năm 2004 để ký giấy cam kết căn nhà là tài sản riêng của bà.

Ông T. khai bà K. đã dùng lời lẽ ngon ngọt để dụ dỗ ông ký cam kết. Trước khi ra phòng công chứng, bà đã cho ông uống một loại thuốc gì đó làm cho người ông bần thần, tinh thần không còn minh mẫn. Ký xong giấy và về nhà, bà ngày càng đối xử tệ bạc với ông nên ông buộc phải ly hôn.

Theo TAND quận Gò Vấp, lý giải việc ký cam kết của ông T. không có cơ sở tin cậy. Ông bảo bà K. cho ông uống thuốc gì đó nhưng lại không chứng minh được. Do đó, yêu cầu chia nửa căn nhà của ông không thể chấp nhận. Tại phiên phúc thẩm, TAND TP.HCM đồng tình với cách giải quyết này. Cấp phúc thẩm phân tích thêm: Ông T. có thể khởi kiện yêu cầu xác định ông ký cam kết do bị lừa dối, bị mất năng lực hành vi dân sự. Tuy nhiên, ông T. ký cam kết vào cuối tháng 12-2004. Theo khoản 1 Điều 145 Bộ luật Dân sự năm 1995, thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là một năm kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. Thời hiệu ấy đã hết nên ông T. không có quyền khởi kiện yêu cầu tuyên bố cam kết mình ký là vô hiệu nữa.

Với lý do mình bị vợ cho uống một loại thuốc gì đó trước khi đi công chứng, ông T. đã gửi đơn khiếu nại để yêu cầu xét lại quyền lợi của ông đối với căn nhà. Tháng 7-2009, TAND tối cao có công văn trả lời giấy cam kết ông T. ký là do sự thỏa thuận và ý chí tự nguyện của ông. Án sơ thẩm và phúc thẩm công nhận căn nhà là tài sản riêng của bà K. là có cơ sở.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Tài sản được cho vào ngày kết hôn có phải là tài sản chung ?

Thưa Luật sư, trong lễ cưới của em mới được tổ chức tháng qua thì có được bố mẹ cho vàng và một vài tài sản có giá trị. Luật sư cho em hỏi vàng và tài sản bố mẹ cho em trong lễ cưới có phải là tài sản chung hay không ?
Em cảm ơn Luật sư

Luật sư tư vấn:

Do thông tin bạn cung cấp không được đầy đủ nên có thể xảy ra nhiều trường hợp.

Trường hợp thứ nhất, hai bạn tổ chức lễ thành hôn và được cho tài sản nhưng hai người chưa đi thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên việc kết hôn không có giá trị pháp lý. Do đó, chưa phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng, chế độ tài sản vẫn là của riêng từng người và bạn cần phải chứng minh tài sản đó là tài sản mà bố mẹ tặng riêng cho bạn chứ không phải cho cả hai vợ chồng

Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

Trường hợp thứ hai, hai bạn đã có Đăng ký kết hôn nhưng bạn không thể chứng minh được tài sản bố mẹ tặng riêng cho mình thì tài sản đó sẽ được coi là tài sản chung theo khoản 3 điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hướng dẫn viết đơn xin ly hôn như thế nào ? Giải quyết tranh chấp tài sản sau ly hôn ?