1. Chris Argyris (Mỹ)

Argyris sinh ra là một cặp song sinh cùng với Thomas S. Argyris (1923–2001) trong một gia đình người Hy Lạp nhập cư đến Hoa Kỳ ở Newark, New Jersey . Argyris (phát âm là AHR-JUR-ris) lớn lên ở Irvington, New Jersey và Athens, Hy Lạp. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, ông phục vụ trong Quân đoàn Báo hiệu của Quân đội Hoa Kỳ. Sau khi phục vụ, anh theo học ngành tâm lý học tại Đại học Clark , nơi anh gặp Kurt Lewin. Ông lấy bằng Thạc sĩ năm 1947 và gia nhập Đại học Kansas, nơi ông lấy bằng Thạc sĩ Tâm lý và Kinh tế năm 1949. Năm 1951 nhận bằng Tiến sĩ tại Đại học Cornell, với luận án dưới sự giám sát của William F. Whyte.về hành vi của tổ chức .

Năm 1951, Argyris bắt đầu sự nghiệp học tập của mình tại Đại học Yale với tư cách là một phần của Trung tâm Lao động và Quản lý Yale, nơi ông làm việc dưới quyền giám đốc và người có ảnh hưởng ban đầu, E. Wight Bakke. Tại Yale, ông sau đó được bổ nhiệm làm Giáo sư Khoa học Quản lý. Năm 1971, ông chuyển đến Đại học Harvard , nơi ông là Giáo sư Giáo dục và Hành vi Tổ chức, cho đến khi nghỉ hưu. Argyris từng là giám đốc của công ty tư vấn Monitor ở Cambridge, Massachusetts.

Argyris nhận bằng Tiến sĩ Luật danh dự của Đại học Toronto năm 2006 và bằng Tiến sĩ Khoa học của Đại học Yale năm 2011.

Argyris qua đời vào ngày 16 tháng 11 năm 2013, hưởng thọ 90 tuổi và được chôn cất tại Nghĩa trang Linwood ở Weston, Massachusetts .

Ông Chris Argyris là nhà nghiên cứu về khoa học hành vi của Mỹ. Ông là một nhà tâm lý học, tiến sĩ danh dự của trường Đại học Giè lu và Harvard.

Năm 1971, ông được mời làm giáo sư giảng dạy về giáo dục học và hành vi của tổ chức ở Đại học Harvard. Ông còn dạy ở khoa quản lý doanh nghiệp, Học viện quản lý Harvard. Ngoài ra, ông còn là cô vấn một số doanh nghiệp quan trọng ở Mỹ như Công ty IBM, Công ty thực phẩm thông dụng, Công ty dầu mỏ, Công ty của anh em nhà Li phu, đồng thời được Chính phủ các nước Pháp, Anh, Na uy, Hà Lan, Ý, Hy Lạp, Tây Đức... mời làm cố vấn về đào tạo và giáo dục.

2. Con đường làm việc của Chris Argyris

Theo từ điển bách khoa toàn thư, nghiên cứu ban đầu của Argyris đã khám phá tác động của cơ cấu tổ chức chính thức, hệ thống kiểm soát và quản lý đối với các cá nhân và cách họ phản ứng và thích nghi với chúng. Kết quả nghiên cứu này được đưa ra trong các cuốn sách Tính cách và Tổ chức (1957) và Tích hợp Cá nhân và Tổ chức (1964). Sau đó, ông chuyển trọng tâm sang thay đổi tổ chức, đặc biệt là khám phá hành vi của các giám đốc điều hành cấp cao trong tổ chức, trong Năng lực giữa các cá nhân và Hiệu quả của Tổ chức (1962) và Tổ chức và Đổi mới (1965).

Từ đó, ông chuyển sang nghiên cứu về vai trò của nhà khoa học xã hội vừa là nhà nghiên cứu vừa là tác nhân ( Lý thuyết và phương pháp can thiệp (1970); Những mâu thuẫn nội tâm của nghiên cứu khắt khe (1980) và Khoa học hành động (1985) - với Robert Putnam và Diana McLain) Thợ rèn). Lĩnh vực nghiên cứu và lý thuyết chính thứ tư của ông - một phần đáng kể được thực hiện với Donald Schön - là trong việc học tập cá nhân và tổ chức và mức độ lý luận của con người, không chỉ hành vi, có thể trở thành cơ sở để chẩn đoán và hành động (Lý thuyết trong thực hành (1974); Học tập về tổ chức (1978); Học tập về tổ chức II(1996) - tất cả với Donald Schön). Ông cũng đã phát triển tư duy này trong Vượt qua Phòng thủ của Tổ chức (1990) và Kiến thức để Hành động (1993).

3. Thành quả nghiên cứu của ông Chris Argyris

Thành quả nghiên cứu của ông rất phong phú. Ông đã xuất bản 21 cuốn sách, đồng thời đã phát biểu 140 bài luận vãn, trong đó có “Cá tính và tổ chức” (1957), “Tìm hiểu hành vi tổ chức” (1960), “Sự kết hợp giữa cá nhân và tổ chức” (1964), “Nghiên cứu về tổ chức” (1978).

4. Cống hiến của Chris Argyris với khoa học quản lý

Cống hiến chính của ông đối với khoa học quản lý là đã đưa ra khái niệm “Cá tính và tổ chức” hoặc gọi là lý luận “Từ không thuần thục đến thuần thục”. Lý luận này của ông chủ yếu được phản ánh trong cuốn “Cá tính và tổ chức” xuất bản năm 1957.

Tháng 6 năm 1957, ông đã từ cuốn sách đó chọn ra một bài luận văn ngắn lấy tiêu đề là “Mấy vấn đề về sự điều hòa, phối hợp giữa cá nhân và tổ chức”, được đăng ở quyển 2 của tạp chí “Khoa học quản lý”, phát hành 3 tháng một số, tập trung trình bày những quan điểm của lý luận “Từ không thuần thục đến thuần thục”.

5. Các bộ phận tạo nên cá tính theo Chris Argyris

Trước hết ông Argyris cho rằng, hành vi tổ chức là do 2 yếu tố cá nhân và tổ chức chính thức kết hợp với nhau để tạo thành. Mỗi cá nhân trong tổ chức đều có cá tính riêng biệt của nó chứ không như lý luận quản lý truyền thống cho rằng, cá nhân trong tổ chức chỉ là một chi tiết cúa cả bộ máy, chịu sự ràng buộc của tổ chức.

Điều đó cũng có nghĩa là, một mặt họ là thành viên của tổ chức, mặt khác họ lại là những cá nhân độc lập.

Cá tính là một thể thống nhất do các bộ phận: năng lượng, nhu cầu, năng lực tạo nên.

a. Bộ phận năng lượng tạo nên cá tính

Năng lượng nói đây không phải là năng lượng sinh lý mà là năng lượng tâm lý. Argyris cho rằng, năng lượng tâm lý tồn tại ở mọi cá nhân. Ngoại lực không thể đè nén mãi việc cá nhân phát huy năng lượng của mình, cho dù ngoại lực có ngăn cản thì con người cũng sẽ nghĩ cách khắc phục trớ ngại ấy mà phát huy năng lượng của mình. Mức độ lớn nhỏ của năng lượng này biến đổi theo sự biến đổi trạng thái tâm lý của cá nhân chứ không phải là cố định, không phải là không thay đổi.

b. Bộ phận nhu cầu tạo nên cá tính

Ông Chris Argyris giả định, năng lượng này tồn tại trong nhu cầu của cá nhân. Nhu cầu nói đây chủ yếu là chỉ nhu cầu tự mình thực hiện công việc. Khi nhu cầu của cá nhân trỗi dậy, trạng thái tâm lý căng thẳng thì cá nhân sẽ phóng ra năng lượng, đồng thời sản sinh ra hành vi. Từ đó hình thành công thức “Nhu cầu -> năng lượng -> hành vi”. Nhu cầu của cá nhân tồn tại trong cá tính của nó. Một nhu cầu nào đó của cá nhân luôn có mối liên hộ với những nhu cầu khác, đồng thời, tất cả những nhu cầu của họ lại có mối liên hệ với mục tiêu của tổ chức. Còn hành vi của cá nhân sẽ kéo dài cho đến khi trạng thái tâm lý được giải tỏa do đạt được mục tiêu hoặc được giảm nhẹ nhờ một phương pháp nào đó.

c. Bộ phận năng lực tạo nên cá tính

Ông Chris Argyris cho rằng năng lực là biểu hiện nhu cầu của con người, đồng thời làm cho nhu cầu được thỏa mãn. Năng lượng của cá nhân một khi được nhu cầu kích thích sẽ được biểu hiện thông qua năng lực thích hợp.

Năng lực có thể phân thành 3 loại:

- Năng lực nhận thức;

- Năng lực hành vi;

- Năng lực cảm giác.

Ba loại năng lực trên này không tồn tại độc lập mà có mối liên hệ, ảnh hưởng lẫn nhau.

Như vậy, cá tính của một người được hình thành bởi ảnh hưởng của các bộ phận cấu thành nói trên. Cá tính của mỗi người khác nhau cũng là do mối liên hệ qua lại một cách độc đáo của các bộ phận cấu thành. Thể thống nhất của cá tính độc đáo này gọi là “cá tính của tôi”. Ông nhấn mạnh, do cá tính của con người được xây dựng thông qua sự tiếp xúc xã hội với những người khác (cùng tác động lẫn nhau) chứ không phải tự mỗi người có được. Vì vậy, mỗi cá nhân đều phải xây dựng mối liên hệ thích hợp với hoàn cảnh xung quanh, đồng thời phải duy trì, bảo vệ sự cân bằng giữa hai bên. Điều này có nghĩa là, ông coi cá nhân là một hệ thống mở, có tác động qua lại với môi trường xung quanh.

Theo ông Argyris, con người là một thể hữu cơ trong trạng thái phát triển, do đó mọi cá tính lành mạnh đều có khuynh hướng phát triển. Hoặc có thể nói, mọi con người lành mạnh đều có một khuynh hướng nội tại là phát triển cá tính của họ. Cái gọi là sự trưởng thành của cá tính chính là bộ phận cấu thành của cá tính đã được mở rộng; đồng thời, nó thống nhất với bộ phận vốn đã tồn tại của cá tính. Vì vậy, cùng với sự trưởng thành của cá tính con người, thế giới của cá nhân cũng được mở rộng. Đây chính là quá trình hình thành cái tồi, là quá trình tự mình thực hiện.

Ông cho rằng, khuynh hướng trướng thành của cá tính bao hàm nội dung về nhiều mặt, đồng thời đó là quá trình từ chưa thuần thục đến thuần thục. Giống như quá trình trưởng thành của một đứa bé, mỗi cá nhân ở vào vị trí như thế nào trong quá trình trưởng thành này đều đánh dấu trình độ thuần thục của cá tính anh ta, đồng thời cũng thể hiện mức độ tự thực hiện công việc của anh ta.

Ông cho rằng, quá trình chuyển biến từ chưa thuần thục đến thuần thục của cá nhân chủ yếu thề hiện ở 7 mặt,

Cụ thể bao gồm 7 mặt sau đây:

- Trong thời kỳ trẻ nhỏ, hành vi của con người ở vào trạng thái bị động, song trong quá trình từng bước trưởng thành, những hành vi chủ động sẽ hình thành.

- Trong thời kỳ trẻ nhỏ, hành vi của con người ở vào trạng thái dựa dẫm người khác. Trong quá trình hình thành, họ sẽ dần dần đạt được trạng thái tự chủ tương đối.

- Trong thời kỳ trẻ nhỏ, con người chỉ có một số phương thức hành vi nào đó. Khi trưởng thành, phương thức hành vi của họ sẽ đa dạng, phức tạp.

- Trong thời kỳ trẻ nhỏ, con người chỉ có hứng thú ngẫu nhiên, đơn giản. Khi trưởng thành, họ sẽ có hứng thú sâu sắc, mạnh mẽ.

- Trong thời kỳ trẻ nhỏ, quan niệm thời gian của con người chi bao gồm “hiện tại”, do đó họ chỉ nghĩ đến những hành vi trong thời gian ngắn. Khi trưởng thành, nó sẽ dần dần phát triển đến những hành vi trong thời gian dài.

- Trong thời kỳ trẻ nhỏ, con người chi có thể dựa dẫm vào người khác. Trong quá trình trưởng thành, họ sẽ dần dần tạo lập được địa vị bình đẳng hoặc ưu việt trong gia đình và xã hội.

- Trong thời kỳ trẻ nhỏ, con người thiếu ý thức về mình. Trong quá trình trưởng thành, họ sẽ dần dần có ý thức về mình, đồng thời có khả năng tự điều khiển.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn)