1. Chủ thể chịu bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra theo Bộ luật dân sự trước đây

Theo quy định tại Điều 626 Bộ luật dân sự trước đây, khi cây cối gây thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ thuộc về chủ sở hữu.

Theo quy định này, việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại không dựa trên một nguyên tắc cụ thể nào, tức là kể cả chủ sở hữu có lỗi hay không có lỗi thì trách nhiệm bồi thường cũng sẽ phát sinh, trừ khi hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng.

Quy định này có thể là do xuất phát từ nguyên tắc thực hiện quyền sở hữu tại Điều 165 của Bộ luật. Theo đó, chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản, nên khi tài sản gây thiệt hại, chủ sở hữu phải bồi thường. Cũng có thể quy định này xuất phát từ nguyên tắc chịu trách nhiệm do lỗi trong việc quản lý cây cối (không xén rễ, tỉa cảnh, chặt bỏ cây nguy hiểm,...). Tuy nhiên, cho dù các nhà làm luật có dựa trên bất cứ nguyên tắc nào khi đưa ra quy định này, thì đây cũng là quy định không họp lý, chúng ta có thể kể đến một số lý do sau:

Lý do thứ nhất, ở trên thực tế, rất nhiều trường hợp chủ sở hữu chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng cây cối cho chủ thể khác. Nếu cây cối gây thiệt hại trong thời gian chủ thể được chuyển giao đang quản lý, sử dụng mà chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại là không phù hợp với lẽ công bằng;

Lý do thứ hai, quy định này dẫn đến thực tế nhiều trường họp người bị thiệt hại không biết khởi kiện ai để yêu cầu bồi thường thiệt hại khi không thể biết ai là chủ sở hữu của cây cối (ví dụ cây xanh đô thị thuộc sở hữu của nhà nước hay của công ty cây xanh).

Hơn nữa, nhiều trường họp chủ sở hữu và người được giao quản lý đùn đẩy trách nhiệm cho nhau, khiến cho việc giải quyết của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khó khăn, ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại.

2. Chủ thể chịu bồi thường thiệt hại theo Bộ luật dân sự Việt Nam hiện nay

Những bất cập trong quy định của bộ luật trước đây đã được các nhà làm luật sửa đổi bởi quy định tại Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2015.

>> Xem thêm:  Thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra ?

Theo Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau:

"Điều 604. Bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra

Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra."

Theo điều luật này, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra có thể là chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý.

Đây là một sự thay đổi phù hợp, thể hiện sự tiến bộ của hoạt động lập pháp. Sự thay đổi này đã khắc phục những hạn chế, bất cập cùa Bộ luạt trước đây, đồng thời đảm bảo sự phù hợp của quy định pháp luật với lẽ công bằng.

Trân trọng!

3. Trách nhiệm bồi thường của chủ sở hữu do cây cối gây ra

- Cơ sở pháp lý: Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau:

"Điều 604. Bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra

Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra."

>> Xem thêm:  Hiện nay trong thực tiễn còn tồn tại vấn đề “xác định nhầm gia cầm là súc vật" và xác định cả “lỗi của súc vật” không?

Về việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra theo điều luật trên chúng ta thấy một số vấn đề như sau:

Về nguyên tắc thông thường, khi chủ sở hữu đang trực tiếp quản lý, sử dụng cây cối mà cây cối gây thiệt hại thì chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại. Thậm chí, trong nhiều trường hợp, chủ sở hữu đã chuyển giao cho người khác quản lý cây cối thì chủ sở hữu vẫn phải bồi thường cho người bị thiệt hại, nếu giữa chủ sở hữu và người được giao quyền quản lý cây cối có thỏa thuận.

Pháp luật Việt Nam không đưa ra một nguyên tắc cụ thể nào cho việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu cây cối. Tuy nhiên, nghiên cứu các quy định pháp luật có liên quan, có thể thấy trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu cây cối dựa trên một số nguyên tắc như:

- Nguyên tắc thực hiện quyền sở hữu. Theo nguyên tắc này, chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi đối tài sản của mình, nhưng khi tài sản gây thiệt hại thì phải bồi thường;

- Nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự. Theo nguyên tắc này, nếu chủ sở hữu cây cối không thực hiện nghĩa vụ phát rễ, tỉa cành, chặt hạ cây có nguy cơ đổ, gẫy... theo quy định tại khoản 2 Điều 175 và khoản 1 Điều 177 Bộ luật dân sự năm 2015 mà cây cối gây thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm bồi thường;

- Nguyên tắc thỏa thuận, tức là giữa chủ sở hữu cây cối và người được giao quản lý cây cối có thể thỏa thuận về việc chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra kể cả trong trường hợp cây cối đang do người đó quản lý.

Trên thực tế, đôi khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu của cây cối trong nhiều trường hợp sẽ khó khăn.

Nếu trường hợp cây cối do chủ sở hữu tự trồng trong khuôn viên đất của mình thì việc xác định chủ sở hữu là sẽ dễ dàng, và chỉ cần căn cứ vào các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các số liệu địa chính là có thể xác định được.

Mặt khác, đối với các loại cây mọc tự nhiên ở ven đường, ở các cánh đồng mà gây thiệt hại thì việc xác định chủ sở hữu sẽ vô cùng khó khăn, và hầu như trong những trường hợp này, nếu cây cối gây thiệt hại thì người bị thiệt hại sẽ gánh chịu rủi ro.

Chúng ta cũng không thể đề cập đến trách nhiệm của Nhà nước khi các cây mọc ven đường gây thiệt hại, bởi vì bất cứ ai cũng có quyền khai thác lợi ích từ những loại cây này (nông dân đi làm có thể ngồi dưới các tán cây mọc ngoài cánh đồng, người đi đường có thể ngắt và sử dụng các loại quả trên cây mọc ven đường).

>> Xem thêm:  Áp dụng pháp luật vào giải quyết tranh chấp thực tiễn về bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra ?

Đối với trường hợp các loại cây mọc tự nhiên trên ranh giới giữa các bất động sản liền kề gây thiệt hại thì trước hết phải căn cứ vào sự thỏa thuận của các bên liên quan đến việc thu hoa lợi. Nếu các bên thỏa thuận chia đều hoa lợi thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được chia cho mỗi bên theo tỉ lệ số hoa lợi được hưởng. Nếu các bên không có thỏa thuận thì về nguyên tắc hoa lợi được chia đều thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải chịu là như nhau.

Trân trọng!

4. Trách nhiệm bồi thường của người chiếm hữu, người được giao quản lý do cây cối gây ra

- Cơ sở pháp lý: Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau:

"Điều 604. Bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra

Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra."

Đây là hai loại chủ thể mới được bổ sung vào Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2015. Như đã phân tích ở trên, đây là sự thay đổi phù hợp với thực tế và phù hợp với lẽ công bằng. Tuy nhiên, liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu, người được giao quản lý cây cối, có một số vấn đề cần bàn luận như sau:

-Vấn đề thứ nhất, chiếm hữu được hiểu là “nắm giữ và quản lý tài sản”, tức là khái niệm “chiếm hữu” đã bao hàm cả khái niệm “quản lý”. Mặc dù Bộ luật Dân sự không đưa ra các khái niệm cụ thể, nhưng suy cho cùng khái niệm “người chiếm hữu” đã bao hàm cả khái niệm “người được giao quản lý”.

Bởi vì, người chiếm hữu bao gồm người chiếm hữu có căn cứ pháp luật và người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật. Hơn nữa, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 165 Bộ luật dân sự năm 2015 có thể xác định người được giao quản lý tài sản là người chiếm hữu có căn cứ pháp luật đối với tài sản được giao. Như vậy, việc sử dụng cả cụm từ “người chiếm hữu” và cụm từ “người được giao quản lý” để xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là không cần thiết và thể hiện sự lặp đi lặp lại các thuật ngữ có cùng nội dung. Do đó, cần phải thay đổi cách sử dụng thuật ngữ trong Điều luật này.

Vấn đề thứ hai, người chiếm hữu cây cối có thể là người chiếm hữu có căn cứ pháp luật (bao gồm cả người được giao quản lý) hoặc người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.

>> Xem thêm:  Vụ việc thực tế về việc xác định giữa trường hợp "súc vật gây thiệt hại" với "hành vi gây thiệt hại có liên quan đến súc vật"

Đối với hai loại người chiếm hữu này, Bộ luật Dân sự không có quy định riêng biệt về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi cây cối mà họ chiếm hữu gây thiệt hại. Tức là nếu cây cối họ đang chiếm hữu mà gây thiệt hại thì họ phải bồi thường thiệt hại bất kể họ có lỗi hay không có lỗi đối với thiệt hại xảy ra. Tuy nhiên, điều này chỉ phù hợp với trường hợp người chiếm hữu cây cối là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật, bởi vì bản thân người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật luôn luôn bị coi là có lỗi trong việc chiếm hữu.

Đối với trường hợp người chiếm hữu cây cối là người chiếm hữu có căn cứ pháp luật, việc bắt họ phải bồi thường thiệt hại do cây cối mà họ chiếm hữu gây ra là không phù hợp trong nhiều trường hợp. Bởi vì, họ không được thực hiện mọi hành vi liên quan đến tài sản chiếm hữu mà họ phải chiếm hữu tài sản đó “trong phạm vi, cách thức, thời hạn do chủ sở hữu xác định” hoặc “phải phù hợp với mục đích, nội dung của giao dịch”.

Hơn nữa, nếu giữa chủ sở hữu và người được giao chiếm hữu cây cối không có thỏa thuận thì nghĩa vụ áp dụng các biện pháp khắc phục, chặt cây có nguy cơ gây thiệt hại vẫn thuộc về chủ sở hữu theo quy định tại khoản 1 Điều 177 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, việc xây dựng nguyên tắc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu khi cây cối gây thiệt hại là cần thiết, nên việc sửa đổi quy định tại Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2015 về vấn đề này là đòi hỏi mang tính thực tế cao.

Trân trọng!

5. Pháp luật một số quốc gia quy định chủ thể trách nhiệm bồi thường do cây cối gây ra

Liên quan đến việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra, pháp luật của mỗi quốc gia lại có quy định khác nhau. Dưới đây là hai quốc gia điểm hình minh chứng sau:

a. Pháp luật dân sự Pháp

Đối với pháp luật dân sự Pháp gắn yếu tố lỗi đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi bất động sản hoặc động sản bị cháy gây ra thiệt hại cho người thứ ba. Theo quy định này, khi cây cối bị cháy gây thiệt hại thì chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu phải bồi thường, nếu người bị thiệt hại chứng minh được chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu có lỗi. Đối với các trường hợp cây cối gây thiệt hại mà không do cháy thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại đương nhiên sẽ phát sinh mà không cần quan tâm đến yếu tố lỗi. Đặc biệt, Bộ luật Dân sự Pháp không đưa ra sự phân biệt người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là chủ sở hữu hay người chiếm hữu, mà chỉ quan tâm tại thời điểm cây cối gây thiệt hại, ai đang quản lý cây cối đó.

Như vậy, những quy định này có thể xuất phát từ các quy định có liên quan đến việc chiếm hữu tài sản của chủ thể không phải là chủ sở hữu. Theo quy định tại Điều 2231 Bộ luật Dân sự Pháp, nếu không có gì chứng minh là chiếm hữu cho người khác ngay từ đầu thì được suy đoán là chiếm hữu cho mình và với danh nghĩa là chủ sở hữu, hoặc Điều 1927 Bộ luật Dân sự Pháp quy định:

“người giữ tài sản phải bảo quản tài sản nhận giữ một cách cẩn thận như bảo quản tài sân của chính mình”.

Điều này cho thấy, việc không phân biệt người đang chiếm hữu tại thời điểm cây cối gây thiệt hại là chủ sở hữu hay chủ thể khác là có cơ sở pháp lý rõ ràng. Mặc dù ĐỈều 604 Bộ luật dân sự năm 2015 giống với quy định của Pháp ở chỗ chủ thể nào đang chiếm hữu cây cối tại thời điểm cây cối gây thiệt hại thì phải bồi thường, nhưng việc chiếm hữu của các chủ thể không phải chủ sở hữu hoàn toàn không giống như chủ sở hữu và cũng không được thực hiện mọi hành vi như chủ sở hữu.

>> Xem thêm:  Muốn nộp đơn ly hôn có thể nộp ở đâu? Mức án phí bao nhiêu?

b. Bộ luật Dân sự Nhật Bản

Theo Bộ luật Dân sự Nhật Bản tại Điều 717 và Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan tại Điều 434 đều đưa ra nguyên tắc xác định chủ thể bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra. Theo đó, nếu cây cối gây thiệt hại, người chiếm hữu chỉ phải bồi thường thiệt hại nếu chứng minh họ có lỗi. Trong trường hợp người chiếm hữu đã thể hiện sự quan tâm đúng mức nhằm ngăn chặn việc xảy ra thiệt hại thì họ không phải bồi thường, lúc này trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ thuộc về chủ sở hữu.

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Tai nạn giao thông trên đường đi làm có được coi là tai nạn lao động ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Chủ thể chịu bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra theo Bộ luật dân sự trước đây (năm 2005) là chủ thể nào?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 626 Bộ luật dân sự trước đây, khi cây cối gây thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ thuộc về chủ sở hữu.

Câu hỏi: Chủ thể chịu bồi thường thiệt hại theo Bộ luật dân sự Việt Nam hiện nay là chủ thể nào?

Trả lời:

"Điều 604. Bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra

Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra."

(Bộ luật dân sự năm 2015)

Câu hỏi: Theo Bộ luật Dân sự Nhật Bản, chủ thể chịu bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra là ai?

Trả lời:

Theo Bộ luật Dân sự Nhật Bản tại Điều 717 đưa ra nguyên tắc xác định chủ thể bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra. Theo đó, nếu cây cối gây thiệt hại, người chiếm hữu chỉ phải bồi thường thiệt hại nếu chứng minh họ có lỗi. Trong trường hợp người chiếm hữu đã thể hiện sự quan tâm đúng mức nhằm ngăn chặn việc xảy ra thiệt hại thì họ không phải bồi thường, lúc này trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ thuộc về chủ sở hữu.