1. Quy định về chủ thể của tội phạm và trách nhiệm hình sự

Thưa luật sư, xin hỏi: Chủ thể của tội phạm là gì, gồm những chủ thể nào? tại sao phải quy định năng lực chịu trách nhiệm hình sự của các chủ thể khác nhau ?
Cảm ơn!

Chủ thể của tội phạm và năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định mới nhất?

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo Bộ Luật hình sự 2015 (Bộ luật hình sự sửa đổi 2017), tại Điều 8 quy định về khái niệm tội phạm như sau:

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

Từ quy định trên có thể thấy, chủ thể của tội phạm là cá nhân hoặc pháp nhân thương mại.

- Chủ thể của tội phạm là cá nhân: Trường hợp này, chủ thể là cá nhân phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định. Đối với một số tội phạm pháp luật có yêu cầu chủ thể là cá nhân phải có thêm các dấu hiệu khác như chủ thể có chức vụ, quyền hạn, là chủ thể xác định như điều tra viên, kiểm sát viên,...gọi là chủ thể đặc biệt.

+ Thứ nhất, về năng lực trách nhiệm hình sự: được hiểu là khả năng nhận thức của cá nhân về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi và khả năng điều khiển hành vi đó, tức họ có sự lựa chọn thực hiện hay không thực hành vi nguy hiểm cho xã hội đó. Người có năng lực trách nhiệm hình sự trước hết phải đạt tới một độ tuổi nhất định để đảm bảo rằng cá nhân đó có khả năng nhận thức đầy đủ về tính chất pháp lý của hành vi mà mình gây ra và có đủ khả năng điều khiển được hành vi đó.

Theo quy định của Bộ luật hình sự, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của cá nhân được chia thành hai trường hợp, theo đó: người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng qu định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142,143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289,290,299, 303 và 304 của bộ luật hình sự. Như vậy, có thể hiểu đơn giản là độ tuổi để bị truy cứu trách nhiệm hình sự là từ 14 tuổi, trong đó, từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ bị chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng qu định tại các điều trên. khi đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, cá nhân được coi là có năng lực trách nhiệm hình sự khi không mắc các bệnh làm mất khả năng nhận thức, làm chủ hành vi. Mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì một người chỉ bị coi là bị mất năng lực hành vi dân sự khi có quyết định của Tòa án tuyên người đó bị mất năng lực hành vi dân sự. Do đó, trên thực tế, khi áp dụng, các cơ quan tiến hành tố tụng cũng không cần phải xác định từng trường hợp người phạm tội có năng lực trách nhiệm hình sự hay không mà chỉ phải xác định độ tuổi xem cá nhân đó có đủ tuổi để truy cứu trách nhiệm hình sự hay không; trường hợp có căn cứ để nghi ngờ cá nhân đó có dấu hiệu thuộc trường hợp bị mất năng lực hành vi dân sự thì sẽ tổ chức để kiểm tra xem cá nhân đó có năng lực trách nhiệm hình sự hay không.

+ Thứ hai, tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự: theo quy định tại Điều 21, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, đối với trường hợp này, người đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình thì được coi là không có năng lực trách nhiệm hình sự.

+ Thứ ba, trường hợp trách nhiệm hình sự do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác dẫn đến mất khả năng nhận thức, điều khiển hành vi. Tại Điều 13 quy định như sau: Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, trong trường này, người sử dụng rượu, bia vẫn được coi là có năng lực trách nhiệm hình sự, vì bản chất của quy định này được hiểu là người sử dụng rượu, bia có quyền lựa chọn việc sử dụng hay không sử dụng rượu, bia, các chất kích thích mạnh khác và người sử dụng những chất kích tích này có nghĩa vụ phải biết rằng việc sử dụng các chất kích thích này có thể làm cho họ rơi vào tình trạng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi dẫn đến phạm tội. Do đó xét cho cùng thì việc họ bị mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi khi sử dụng chất kích thích dẫn đến phạm tội là do ý chí chủ quan của người đó, nên trường hợp này vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự bình thường. Ngoài ra việc sử dụng chất kích thích để phạm tội trong một số trường hợp sẽ được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Chủ thể là pháp nhân thương mại: đây là một quy định mới của Bộ luật hình sự khi ghi nhận pháp nhân cũng là một chủ thể của tội phạm. Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lượi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác. Đây là chủ thể đặc biệt, theo quy định của Bộ luật hình sự, pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện quy định tại Điều 75 như sau:

+ Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;

+ Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;

+ Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;

+ Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật này.

Mặt khác, pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội nhất định được quy định cụ thể tại Điều 76 Bộ luật hình sự.

Trên đây là nội dung phân tích về chủ thể của tội phạm theo quy định của pháp luật hiện hành. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Mẫu đơn trình báo công an mới nhất năm 2020, Cách viết đơn trình báo

2. Đảng viên không khuyên con ra đầu thú có phạm tội không ?

Thưa luật sư, cha mẹ là Đảng viên đã 2, 3 chục năm khi biết con gái mình (cũng là đảng viên) có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của làng xóm láng giềng và đồng nghiệp trong cơ quan nhà nước nơi con mình đang làm gần 1.7 tỷ trong năm 2015. Một tuần trước đêm giao thừa (âm lịch) mà không khuyên con mình ra đầu thú nhận tội còn cố tình đưa con mình đi trốn ở TP.HCM hoặc Bình Dương thì những hành vi này có buộc tội được không ?
Đầu năm 2016, mẹ cô ta trong thời gian này gian lận lừa đảo gần 650 triệu của công đòan giáo viên. Khi chủ nợ đến, vợ chồng không tìm cách giả quyết mà còn thách chủ nợ đi thưa công an thì những hành vi này có buộc tội được không ?
Tôi xin chân thành cảm ơn.

>> Tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Với những thông tin mà bạn cung cấp, sau nghi nghiên cứu và xem xét, chúng tôi xin được trả lời như sau:

Thứ nhất: Về hành vi biết con mình phạm tội mà đưa con đi trốn.

Trong trường hợp này, bạn có nói, bố mẹ của người phạm tội biết rõ con gái mình đang có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác - tức là tội phạm đã được thực hiện và không khuyên con ra đầu thú đồng thời còn đưa con đi trốn.

Điều 19 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 hiện hành quy định người không tố giác tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc một số tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 389 BLHS.

Theo quy định của Bộ luật hình sự, hành vi này có thể xem xét dấu hiệu cấu thành tội che giấu tội phạm quy định tại Điều 389 BLHS, cụ thể như sau:

"Điều 389. Tội che giấu tội phạm

1. Người nào không hứa hẹn trước mà che giấu một trong các tội phạm quy định tại các điều sau đây của Bộ luật này, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 18 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm:

a) Các điều 108, 109, 110, 111, 1 12, 113, 1 14, 115, 116, 117, 118, 119, 120 và 121;

b) Điều 123, các khoản 2, 3 và 4 Điều 141, Điều 142, Điều 144, khoản 2 và khoản 3 Điều 146, các khoản 1, 2 và 3 Điều 150, các điều 151, 152, 153 và 154;

c) Điều 168, Điều 169, các khoản 2, 3 và 4 Điều 173, các khoản 2, 3 và 4 Điều 174, các khoản 2, 3 và 4 Điều 175, các khoản 2, 3 và 4 Điều 178;

d) Khoản 3 và khoản 4 Điều 188, khoản 3 Điều 189, khoản 2 và khoản 3 Điều 190, khoản 2 và khoản 3 Điều 191, khoản 2 và khoản 3 Điều 192, các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 193, các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 194, các khoản 2, 3 và 4 Điều 195, khoản 2 và khoản 3 Điều 196, khoản 3 Điều 205, các khoản 2, 3 và 4 Điều 206, Điều 207, Điều 208, khoản 2 và khoản 3 Điều 219, khoản 2 và khoản 3 Điều 220, khoản 2 và khoản 3 Điều 221, khoản 2 và khoản 3 Điều 222, khoản 2 và khoản 3 Điều 223, khoản 2 và khoản 3 Điều 224;

đ) Khoản 2 và khoản 3 Điều 243;

e) Các điều 248, 249, 250, 251, 252 và 253, khoản 2 Điều 254, các điều 255, 256, 257 và 258, khoản 2 Điều 259;

g) Các khoản 2, 3 và 4 Điều 265, các điều 282, 299, 301, 302, 303 và 304, các khoản 2, 3 và 4 Điều 305, các khoản 2, 3 và 4 Điều 309, các khoản 2, 3 và 4 Điều 311, khoản 2 và khoản 3 Điều 329;

h) Các khoản 2, 3 và 4 Điều 353, các khoản 2, 3 và 4 Điều 354, các khoản 2, 3 và 4 Điều 355, khoản 2 và khoản 3 Điều 356, các khoản 2, 3 và 4 Điều 357, các khoản 2, 3 và 4 Điều 358, các khoản 2, 3 và 4 Điều 359, các khoản 2, 3 và 4 Điều 364, các khoản 2, 3 và 4 Điều 365;

i) Khoản 3 và khoản 4 Điều 373, khoản 3 và khoản 4 Điều 374, khoản 2 Điều 386;

k) Các điều 421, 422, 423, 424 và 425.

2. Phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc phát hiện tội phạm hoặc có những hành vi khác bao che người phạm tội, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Đối với tội che giấu tội phạm, người phạm tội biết hành vi rõ tội phạm đã được thực hiện, biết rõ che giấu tội phạm là cản trở hoạt động điều tra, xử lý tội phạm, gây khó khăn cho hoạt động này, tuy nhiên họ mong muốn che giấu trót lọt tội phạm (chứa chấp, nuôi giấu trong nhà, tìm địa điểm cho người phạm tội ẩn náu, giúp người phạm tội bỏ trốn … ) Trong trường hợp này, bố mẹ của người phạm tội đã biết hành vi phạm tội của con mình và đồng thời đưa con đi trốn, hoàn toàn đủ dấu hiện cấu thành tội phạm tội che giấu tội phạm và không liên quan đến việc họ có là đảng viên hay không, trừ trường hợp họ có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc phát hiện tội phạm hoặc có những hành vi khác bao che người phạm tội thì mức hình phạt của họ sẽ cao hơn.

Thứ hai, hành vi gian lận, lừa đảo 650 triệu đồng của công đoàn giáo viên có bị buộc tội không ?

Do bạn cung cấp thông tin chưa đầy đủ về hành vi phạm tội, vì vậy, có thể hành vi này sẽ cấu thành 2 tội phạm: Tội lừa đảo chiêm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS) hoặc tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS).

Theo quy định tại điều 174:

"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm."

Như vậy, để xử lý một người về tội danh này, cần chứng minh được người đó đã có “hành vi gian dối” khi huy động vốn để chiếm đoạt như tạo vỏ bọc là một doanh nghiệp làm ăn phát đạt, có nhiều nhà đất, xe cộ, cửa hàng kinh doanh hoặc dùng "mồi nhử" người gửi tiền dạng như đang có dự án lớn, đang có chỗ đầu tư bất động sản hời… nên cần huy động vốn dù với lãi suất cao…

Theo quy định tại Điều 175, người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

''a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn đchiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.''

Người phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có thể bị xử phạt cao nhất là 20 năm tù và còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.

Trong trường hợp này, hành vi nói trên có thể căn cứ để bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

>> Xem thêm:  Thế nào là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ? Hình phạt hành vi chiếm đoạt tài sản

3. Một số vấn đề khi áp dụng tình tiết "Tự thú" và "Đầu thú" trong thực tiễn xét xử

Trong thời gian qua, khi giải quyết một vụ án hình sự có dấu hiệu người phạm tội tự thú và đầu thú, các Toà án hiểu và áp dụng tình tiết này rất khác nhau, không chỉ đối với các Thẩm phán Tòa án cấp huyện, cấp tỉnh, Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao mà ngay cả đối với Hội đồng giám đốc thẩm. Điều này cho thấy, tình tiết người phạm tội “tự thú” và “đầu thú” có một ý nghĩa rất quan trọng để các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự cũng như khi quyết định hì

Về tình tiết người phạm tội tự thú”, sau khi Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1985 có hiệu lực pháp luật, ngày 2-6-1990 liên ngành trung ương (Bộ Nội vụ, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp) đã ban hành Thông tư liên ngành số 05/TTLN (viết tắt là Thông tư số 05/TTLN) hướng dẫn tương đối chi tiết và đầy đủ việc xác định và áp dụng tình tiết này khi giải quyết vụ án có dấu hiệu “người phạm tội tự thú”. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng Thông tư này khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nhất là sau khi BLHSnăm 1999 có hiệu lực pháp luật, Toà án thấy nếu mọi trường hợp người phạm tội “tự thú” và “đầu thú” đều được áp dụng khoản 1 Điều 46 BLHSlà không thoả đáng, nên Chánh án Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Công văn số 81/2002/TANDTC ngày 10-6-2002 hướng dẫn các Toà án chỉ áp dụng khoản 1 Điều 46 BLHS đối với tình tiết “người phạm tội tự thú”, còn tình tiết “người phạm tội đầu thú” chỉ được áp dụng khoản 2 Điều 46 BLHS. Sau khi Chánh án Toà án nhân dân tối cao ban hành Công văn số 81/2002/TANDTC, về phía Cơ quan Điều tra và Viện Kiểm sát không có ý kiến gì, nhưng các ý kiến khác nhau lại chính từ phía các Thẩm phán. Đa số Thẩm phán coi Công văn số 81/2002/TANDTC là văn bản chính thức của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn, nên không có lý do gì để không áp dụng. Tuy nhiên, có một số Thẩm phán vì muốn áp dụng điểm o khoản 1 điều 46 BLHSđể nếu người phạm tội có một tình tiết giảm nhẹ nữa quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS thì áp dụng Điều 47 BLHSxử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang hình phạt khác nhẹ hơn nên cho rằng, Công văn số 81/2002/TANDTC của Chánh án Toà án nhân dân tối cao chưa phải là văn bản pháp quy nên không bắt buộc Thẩm phán phải chấp hành, trong khi đó Thông tư số 05/TTLN có giá trị pháp lý cao hơn lại chưa bị thay thế; do đó trường hợp người phạm tội “đầu thú” được áp dụng điểm o khoản 1 Điều 46 BLHS. Đây là vấn đề tuy không lớn, nhưng đối với một số trường hợp có sự khác nhau giữa Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm về việc xác định và áp dụng tình tiết quy định tại điểm o khoản 1 Điều 46 BLHS làm thay đổi cơ bản quyết định đối với người phạm tội như: Toà án cấp sơ thẩm phạt tù giam đối với bị cáo vì xác định bị cáo chỉ “đầu thú”, nhưng Toà án cấp phúc thẩm xác định bị cáo “tự thú” nên cho bị cáo được hưởng án treo hoặc giảm hình phạt đáng kể cho bị cáo; sau khi xét xử phúc thẩm, Toà án cấp sơ thẩm không đồng tình đã kiến nghị Toà án nhân dân tối cao xét lại bản án phúc thẩm v.v…

Để giúp bạn đọc hiểu thêm về tình tiết “người phạm tội tự thú” và góp phần làm sáng tỏ những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, theo chúng tôi, cần phải tìm hiểu nội dung của các khái niệm “tự thú” và “đầu thú” và quy định của BLHS, các văn bản hướng dẫn về các trường hợp tự thú và đầu thú cũng như giá trị pháp lý của các văn bản này.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến - 1900.6162

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.6162

3.1. Về tình tiết tự thú:

Tự thú là “tự mình nhận tội và khai ra các hành động phạm pháp của mình”1

Người phạm tội tự thú có nhiều mức độ khác nhau, nếu hiểu theo nghĩa rộng thì tự thú bao hàm cả khái niệm nêu trên và cả đầu thú, thành khẩn khai báo. Tuy nhiên, về pháp lý, chỉ coi tự thú khi tội phạm họ thực hiện chưa bị phát hiện nhưng tự đến cơ quan có thẩm quyền (Công an, Viện kiểm sát, Thanh tra...) khai báo hành vi phạm tội của mình và đồng phạm (nếu có).

Tự thú là tự khai ra hành vi phạm tội của mình với các nhà chức trách. Việc người phạm tội tự khai ra hành vi phạm tội của mình với nhà chức trách là biểu hiện của sự ăn năn hối cải về việc làm sai trái của mình nên đáng được khoan hồng, nhưng mức độ khoan hồng tới đâu, thì lại phải căn cứ vào chính sách hình sự của Nhà nước; căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả đã xảy ra; thái độ khai báo; sự góp phần vào việc phát hiện và điều tra tội phạm của người tự thú. BLHS quy định người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu “trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm”.2 Trong trường hợp người phạm tội tự thú nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 25 BLHS thì được coi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm o khoản 1 Điều 46 BLHS.

Thông tư số 05/TTLN hướng dẫn thi hành chính sách Đối với người phạm tội ra tự thú đã quy định: “Người đã thực hiện hành vi phạm tội, nhưng chưa bị phát giác, không kể phạm tội gì, thuộc trường hợp nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng mà ra tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả tội phạm thì có thể được miễm trách nhiệm hình sự theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 48 (nay là khoản 2 Điều 25 BLHS năm 1999) hoặc được giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại Điều 38 (nay là Điều 46) BLHS năm 1999; nếu cùng với việc tự thú mà còn lập công lớn, vận động được nhiều người khác đã phạm tội ra tự thú thì có thể được khen thưởng theo quy định chung của Nhà nước”3. Như vậy, người tự thú có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có đủ những điều kiện sau:

- Tội phạm mà người tự thú đã thực hiện chưa bị phát giác, tức là chưa ai biết có tội phạm xảy ra hoặc có biết nhưng chưa biết ai là thủ phạm. Ví dụ: Phạm Thanh H thấy gia đình nhà anh Trần Quốc T không có ai ở nhà nên đã cậy cửa vào nhà lấy đi một chiếc ti vi trị giá 10.000.000 đồng. Sau hai tháng vụ trộm cắp này chưa tìm ra thủ phạm thì H đã đến cơ quan Công an khai rõ hành vi phạm tội của mình và đem trả cho gia định anh T chiếc ti vi mà H đã lấy trộm.

- Người tự thú phải khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, tức là khai đầy đủ tất cả hành vi phạm tội của mình cũng như hành vi phạm tội của những người đồng phạm khác, không giấu diếm bất cứ một tình tiết nào của vụ án, đồng thời giúp Cơ quan Điều tra phát hiện tội phạm như: chỉ nơi ở của người đồng phạm khác hoặc Cơ quan Điều tra bắt người đồng phạm khác đang bỏ trốn, thu thập các dấu vết của tội phạm, thu hồi vật chứng, tài sản của vụ án.v.v... Nếu khai không rõ ràng hoặc khai báo không đầy đủ thì không được lấy đó làm căn cứ miễn trách nhiệm hình sự. (Ví dụ: Mai Ngọc T nhận làm gián điệp cho nước ngoài, T đã cung cấp nhiều tài liệu bí mật Nhà nước cho nước ngoài trong một thời gian từ năm 1990 đến năm 2003 thì T ra tự thú với Cơ quan An ninh điều tra, nhưng T chỉ khai làm gián điệp cho nước ngoài từ năm 1990 và đã chấm dứt việc làm gián điệp từ năm 2003, nhiều tài liệu bí mật Nhà nước T cung cấp cho nước ngoài, T không khai đầy đủ).

- Cùng với việc tự thú người tự thú phải cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm như: Trả lại tài sản đã chiếm đoạt; thông báo kịp thời cho người bị hại biết những gì đang đe doạ đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự hoặc tài sản để họ đề phòng; đòi lại hoặc thu lại những phương tiện, công cụ hoặc các nguồn nguy hiểm mà họ đã giao hoặc đã tạo ra cho người đồng phạm khác hoặc cho những lợi ích khác v.v... Ví dụ: Đào Văn H đã bỏ thuốc độc vào bể nước của gia đình anh Đỗ Văn Q nhằm đầu độc anh Q, nhưng H đã tự thú và thông báo cho gia đình anh Q biết trong bể nước có thuốc độc để gia đình anh không dùng nước đã có thuốc độc, hậu quả được hạn chế tới mức thấp nhất, nên H có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

Cả hai trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 25 BLHS người phạm tội cũng chỉ có thể được miễn trách nhiệm hình sự chứ không phải đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự. Và vì vậy, khi xem xét để miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội ra tự thú phải xem xét một cách toàn diện phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; vào hậu quả đã xảy ra; vào thái độ khai báo của người phạm tội tự thú; vào sự góp phần vào việc phát hiện, điều tra tội phạm; vào việc hạn chế hậu quả của tội phạm; đồng thời, phải cảnh giác với những người giả vờ tự thú để trốn tránh một tội phạm nghiêm trọng hơn hoặc chờ thời cơ lại tiếp tục thực hiện tội phạm.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) thì Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát và Toà án có quyền miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội tự thú theo khoản 2 Điều 25 BLHS (khoản 2 Điều 164; khoản 1 Điều 169; khoản 2 Điều 227 BLTTHS). Việc miễn trách nhiệm hình sự của Cơ quan Điều tra và Viện Kiểm sát được thực hiện bằng một quyết định nhưng đối với Toà án thì phải bằng bản án, vì Viện Kiểm sát đã xác định người phạm tội không được miễn trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 25 BLHS nên mới truy tố ra toà, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà chỉ được ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 105 và các điểm 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 107 của BLTTHS hoặc khi Viện Kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố trước khi mở phiên toà. Chỉ có Hội đồng xét xử khi nghị án, qua thảo luận, cân nhắc đánh giá thấy trường hợp tự thú của bị cáo được miễn trách nhiệm hình sự thì quyết định trong bản án.

Nếu người phạm tội tự thú, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự thì được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm o khoản 1 Điều 46 BLHS. Đây là vấn đề về lý luận cũng như thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử còn nhiều vướng mắc khi xem xét để miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội tự thú; ranh giới để xác định trường hợp nào người phạm tội tự thú thì được miễn trách nhiệm hình sự, còn trường hợp nào người phạm tội tự thú chỉ được coi là tình tiết giảm nhẹ không rõ ràng, mà tuỳ thuộc vào việc đánh giá của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng; không ít trường hợp, Cơ quan Điều tra cho rằng, người phạm tội thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự, nhưng Viện Kiểm sát và Toà án thì cho rằng chưa đến mức miễn trách nhiệm hình sự, hoặc ngược lại, Toà án hoặc Viện Kiểm sát cho rằng người phạm tội thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự nhưng Cơ quan điều tra không đồng tình vẫn đề nghị truy tố.

Thực tiễn xét xử cho thấy, hầu hết các trường hợp người phạm tội tự thú nhưng Viện kiểm sát không miễn trách nhiệm hình sự mà truy tố ra Toà thì Toà án chỉ coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm o khoản 1 Điều 46 BLHS chứ không ra bản án miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Mặt khác Điều 227 BLTTHS quy định không rõ ràng, chỉ quy định Hội đồng xét xử trả tự do cho bị cáo trong trường hợp bị cáo được miễn trách nhiệm hình sự chứ không có quy định về thẩm quyền của Hội đồng xét xử miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo khoản 2 Điều 25 BLHS. Tuy nhiên, căn cứ vào Điều 227 BLTTHS thì việc miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo tự thú theo khoản 2 Điều 25 BLHS phải do Hội đồng xét xử quyết định như đã phân tích ở trên.

Nếu người phạm tội tự thú không được miễn trách nhiệm hình sự, mà chỉ được coi là tình tiết giảm nhẹ thì khi áp dụng điểm o khoản 1 Điều 46 BLHS đối với trường hợp người phạm tội tự thú cần chú ý:

- Trường hợp bị cáo phạm nhiều tội, thì tự thú tội nào được coi là tình tiết giảm nhẹ đối với tội đó. Ví dụ: Vũ Thị C bị bắt quả tang về hành vi vận chuyển 100 gam Heroin; trong quá trình điều tra, Vũ Thị C tự khai trước đó 3 tháng vào trước tết Nguyên Đán C còn phạm tội buôn bán hàng cấm là pháo nổ với số lượng rất lớn; Cơ quan Điều tra xác minh thấy lời khai tự thú của Vũ Thị C là chính xác. Tuy nhiên, việc tự thú của Vũ Thị C không góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, không hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả tội phạm, (vì số pháo nổ mà Vũ Thị C buôn bán đã tiêu thụ hết trong dịp Tết Nguyên Đán, C cũng không khai được số pháo đó bán cho ai, ở đâu) nên Cơ quan Điều tra đã khởi tố bổ sung đối với Vũ Thị C về tội Buôn bán hàng cấm theo khoản 2 Điều 155 BLHS. Khi xét xử vụ án đối với Vũ Thị C, Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm o khoản 1 Điều 46 BLHS đối với bị cáo Vũ Thị C về cả 2 tội “vận chuyển trái phép chất ma tuý”“buôn bán hàng cấm”. Lẽ ra, Toà án cấp sơ thẩm chỉ áp dụng tình tiết giảm nhẹ này đối với tội “buôn bán hàng cấm” còn đối với tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội tự thú”.

- Trường hợp bị cáo thực hiện nhiều hành vi phạm cùng một tội, thì tự thú hành vi phạm tội nào (nếu không được miễn trách nhiệm hình sự về hành vi đó) thì cũng được coi là tình tiết giảm nhẹ đối với tội phạm mà bị cáo thực hiện, nhưng mức độ giảm nhẹ ít hơn trường hợp tự thú tất cả hành vi phạm tội. Ví dụ: Trịnh Đắc D bị bắt quả tang khi đang thực hiện hành vi trộm cắp của một hành khách trên xe buýt với số tiền 10 triệu đồng. Trong quá trình điều tra, D còn khai đã 4 lần trộm cắp tài sản của 4 người với tổng số tiền là 50 triệu đồng nhưng không biết tên và địa chỉ của 4 người bị hại, vì D chuyên móc túi trên xe buýt, số tiền trộm cắp được D đã ăn tiêu hết. Trịnh Đắc D bị Viện Kiểm sát truy tố theo khoản 2 Điều 138 BLHS với các tình tiết: “có tính chất chuyên nghiệp” (điểm b) và “chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng” (điểm e). Do Trịnh Đắc D đã tự thú 4 lần trộm cắp trước khi bị bắt quả tang và xét thấy không thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự của hành vi trộm cắp tài sản 4 lần trước đó, nên khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm o khoản 1 Điều 46 BLHS đối với bị cáo Trịnh Đắc D.

- Cần phân biệt người phạm tội tự thú với “người phạm tội thành khẩn khai báo”. Người phạm tội thành khẩn khai báo là trường hợp chỉ thực hiện một hoặc một số hành vi mà tất cả các hành vi đó chỉ cấu thành một tội. Sau khi bị phát hiện, người phạm tội đã khai báo đầy đủ, trung thực tất cả các tình tiết của vụ án, giúp cơ quan tiến hành tố tụng xử lý nhanh chóng và đúng pháp luật. Nếu người phạm tội sau khi tự thú mà không khai báo thành khẩn thì vẫn có thể được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm o khoản 1 Điều 46 BLHS nhưng mức độ giảm nhẹ ít hơn trường hợp sau khi tự thú người phạm tội khai báo thành khẩn, mà không được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội thành khẩn khai báo”, vì người phạm tội thành khẩn khai báo sau khi tự thú là một trong những điều kiện để xem xét có thể miễn trách nhiệm hình sự cho họ.

3.2. Về tình tiết đầu thú:

Đầu thú là trường hợp đã có người biết mình phạm tội, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã bỏ trốn nhưng đã đến cơ quan có thẩm quyền trình diện khai rõ hành vi phạm tội của mình và đồng phạm (nếu có).

Như vậy “tự thú” và “đầu thú” chỉ khác nhau ở chỗ: Tự thú là chưa ai biết mình phạm tội, còn đầu thú là đã có người biết mình phạm tội. Tính chất và mức độ của hành vi đầu thú được đánh giá khác nhau tuỳ thuộc vào việc người phạm tội đầu thú sớm hay muộn. Nếu đầu thú càng sớm thì mức độ giảm nhẹ càng nhiều. Ví dụ: Thái Lê K có ý định giết anh Vũ Hùng V nên đã lợi dụng lúc anh V đang ở trong rừng, K đã dùng súng săn bắn nhiều phát vào người anh V, rồi bỏ trốn. Anh V nhìn thấy K bắn mình đã tránh vào gốc cây nên chỉ bị thương. Sau khi bỏ trốn, K biết anh V không chết, mặc dù Cơ quan Điều tra chưa khởi tố vụ án, khởi tố bị can, nhưng K đã đến Công an đầu thú và khai rõ hành vi phạm tội của mình. Trường hợp Cơ quan Điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, và ra lệnh truy nã, nhưng không bắt được phải tạm đình chỉ vụ án mà người phạm tội mới ra đầu thú thì cũng được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng mức độ giảm nhẹ không bằng trường hợp người phạm tội đã đầu thú sớm.

Mức độ giảm nhẹ của hành vi đầu thú còn phụ thuộc vào việc sau khi đầu thú người phạm tội có khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm hay không, nếu khai không rõ ràng hoặc khai báo không đầy đủ thì mức độ giảm nhẹ ít hơn trường hợp khai báo rõ ràng và đầy đủ.

Cần phân biệt tự thú với đầu hàng. Đầu hàng là chịu thua. Vì vậy, trong trường hợp một người phạm tội bị bao vây, không còn con đường nào khác mà phải ra hàng thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ. Ví dụ: Nguyễn Quốc T bị truy nã về hành vi mua bán chất ma tuý theo khoản 4 Điều 194 BLHS, nhận được tin báo của nhân dân cho biết Nguyễn Quốc T đang lẩn trốn tại bãi đào vàng của Phạm Văn K, Cơ quan Điều tra đã tổ chức lực lượng vây bắt T, trong lúc vây bắt, T đã dùng súng AK bắn trả. Lực lượng vây bắt đã nhiều lần dùng loa kêu gọi T ra hàng, nhưng T vẫn ngoan cố, chỉ đến khi súng hết đạn, lực lượng vây bắt đã xiết chặt vòng vây, T mới chịu đầu hàng. Nếu họ còn có khả năng trốn tránh, nhưng ra trình diện thì được coi là trường hợp đầu thú.

Theo tinh thần của Thông tư số 05/TTLN, thì chỉ có một khái niệm “tự thú” cho tất cả những trường hợp tự thú hoặc đầu thú, tuy nhiên, mức độ có khác nhau và nói chung họ đều được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng không hướng dẫn cụ thể trong trường hợp nào áp dụng khoản 1, trường hợp nào áp dụng khoản 2 Điều 38 BLHS năm 1985.

Sau khi BLHS năm 1999 có hiệu lực pháp luật, các cơ quan ban hành Thông tư này cũng không ban hành Thông tư liên tịch thay thế Thông tư liên ngành số 05/TTLN nên các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng vẫn căn cứ vào hướng dẫn tại Thông tư số 05/TTLN để xác định “tự thú” đối với với cả trường hợp miễn trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 25 và tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm o khoản 1 Điều 46 BLHS. Mặt khác, Thông tư số 05/TTLN là văn bản hướng dẫn áp dụng BLHS năm 1985 nên về nguyên tắc không còn giá trị pháp lý, đồng thời có những nội dung không còn phù hợp với BLHS năm 1999.

Để kịp thời hướng dẫn các Toà án áp dụng BLHS năm 1999 đối với trường hợp người phạm tội tự thú, ngày 10-6-2002, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Công văn số 81/2002/TANDTC. Nội dung của Công văn này về cơ bản không khác nhiều so với Thông tư số 05/TTLN, chỉ có điểm khác là nếu người phạm tội ra “đầu thú” thì không được áp dụng điểm o khoản 1 Điều 46 BLHS mà chỉ được áp dụng khoản 2 Điều 46 BLHS. Sau khi Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn, có nhiều ý kiến cho rằng, Toà án nhân dân tối cao đã hướng dẫn trái với Thông tư số 05/TTLN; tại nhiều phiên toà hình sự các Luật sư, bào chữa cho bị cáo chỉ thuộc trường hợp “đầu thú” chứ không phải “tự thú” đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm o khoản 1 điều 46 BLHS để bị cáo có 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS, trên cơ sở đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 BLHS quyết định dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Có Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Luật sư nhưng cũng có Hội đồng xét xử không chấp nhận. Một số bài viết đăng trên một số báo cũng nêu vấn đề này và cho rằng, Công văn 81/2002/TANDTC của Toà án nhân dân tối cao không phải là văn bản pháp lý nên không có giá trị.

Như trên đã nêu, Thông tư số 05/TTLN hướng dẫn áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1985, theo khoản 2 Điều 81 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì BLHS năm 1999 đã thay thế BLHS năm 1985, nên các văn bản hướng dẫn thi hành BLHS năm 1985 về nguyên tắc không còn giá trị pháp lý. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng có thể vận dụng những nội dung còn phù hợp với BLHS năm 1999 để xem xét đánh giá. Sau khi BLHSnăm 1999 có hiệu lực pháp luật, các cơ quan ban hành Thông tư số 05/TTLN chưa ban hành một Thông tư liên tịch mới thay thế Thông tư liên ngành số 05/TTLN hoặc có Thông báo liên tịch về việc tiếp tục áp dụng Thông tư liên ngành số 05/TTLN, thì việc Toà án nhân dân tối cao ban hành Công văn 81/2002/TANDTC hướng dẫn các Toà án áp dụng BLHS năm 1999 là hoàn toàn đúng thẩm quyền. Tuy chỉ là Công văn, nhưng nó vẫn là Công văn hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao đối với các Toà án các cấp; cho đến nay, các cơ quan có chức năng giám sát việc ban hành văn bản chưa có ý kiến gì về nội dung Công văn 81 này nên Công văn 81/2002/TANDTC của Toà án nhân dân tối cao là hoàn toàn đúng pháp luật. Mặt khác hành vi “tự thú” và hành vi “đầu thú” có nội dung và mức độ giảm nhẹ rất khác nhau, nên hành vi đầu thú không thể coi như hành vi tự thú để áp dụng điểm o khoản 1 điều 46 BLHS được. Tuy nhiên, để bảo đảm tính pháp lý, chúng tôi đề nghị các cơ quan đã ban hành Thông tư số 05/TTLN ban hành một Thông tư liên tịch thay thế Thông tư số 05/TTLN hướng dẫn trường hợp “tự thú” và “đầu thú” là hai trường hợp khác nhau như tinh thần Công văn 81/2000/TANDTC của Toà án nhân dân tối cao. Trong khi chưa ban hành được Thông tư liên tịch thì Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao nên ban hành Nghị quyết để có giá trị pháp lý cao hơn Công văn.

4. Bao nhiêu tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự với mọi loại tội?

Căn cứ theo Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có quy định:

"Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

1. Người từ đủ 16 tui trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

2.6 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này."

The quy định, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật có quy định khác. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này. Các tội mà người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm bao gồm:

- Điều 123: Tội giết người

- Điều 134: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác;

- Điều 141: Tội hiếp dâm;

- Điều 142: Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi;

- Điều 144: Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;

- Điều 150: Tội mua bán người

- Điều 151: Tội mua bán người dưới 16 tuổi

- Điều 168:Tội cướp tài sản

- Điều 169: Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

- Điều 170: Tội cưỡng đoạt tài sản

- Điều 171: Tội cướp giật tài sản

- Điều 173: Tội trộm cắp tài sản

- Điều 178: Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

- Điều 248: Tội sản xuất trái phép chất ma túy

- Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

- Điều 250: Tội vận chuyển trái phép chất ma túy

- Điều 251: Tội mua bán trái phép chất ma túy

- Điều 252: Tội chiếm đoạt chất ma túy

- Điều 265: Tội tổ chức đua xe trái phép

- Điều 266: Tội đua xe trái phép

- Điều 286: Tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử

- Điều 287: Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử

- Điều 289: Tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác

- Điều 290: Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

- Điều 299: Tội khủng bố

- Điều 303: Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia

- Điều 304: Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự

5, Quy định về che dấu tội phạm?

Tại Điều 18 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có quy định:

Điều 18. Che giấu tội phạm

1. Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định.

2. Người che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Ép buộc người khác ký giấy nợ bị xử lý như thế nào ? Thuê đòi nợ có vi phạm không ?