1. Tìm hiểu về chính sách chủ tọa phiên tòa

Thuật ngữ “chủ toạ phiên toà" đã được quy định trong các văn bản pháp luật trước đây. Theo Sắc lệnh số 13 ngày 24.01.1946 về tổ chức các Toà án và ngạch Thẩm phán thì Toà án sơ thẩm chỉ có một Thẩm phán xét xử, Toà án đệ nhị cấp khi xét xử Bến việc tiểu hình ngoài Chánh án làm chủ toạ phiên tòa còn có thêm hai Phụ thẩm nhân dân, khi xét xử việc đại hình thì hội đồng xét xử có 5 người gồm Chánh án làm chủ toạ, hai Thẩm phán làm Phụ thẩm chuyên môn và hai Phụ thẩm nhân dân; Toà thượng thẩm có Chánh án làm chủ toạ, hai Thẩm phán làm Hội thẩm và hai Phụ thẩm nhân dân. Theo Sắc lệnh số 463 ngày 23.8.1946 về tổ chức Toà án binh lâm thời thì Hội đồng xét xử của Toà án binh lâm thời gồm có Chánh án làm chủ toạ và hai Hội thẩm, trong đó một Hội thẩm là Thẩm phán, một Hội thẩm là quân nhân. Luật tổ chức Toà án nhân dân đầu tiên (ngày 14.7.1960) quy định thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân, trong trường hợp những vụ án nhỏ, giản đơn và không quan trọng thì Toà án nhân dân có thể xử không có Hội thẩm nhân dân; thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm của Toà án nhân dân tối cao gồm có ba hoặc năm Thẩm phán do Chánh án làm chủ toạ phiên toà hoặc chỉ định một Thẩm phán làm chủ toạ phiên toà.

Chủ toạ phiên toà có quyền điều khiển phiên toà tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định và giữ nghiêm kỉ luật phiên toà. Mọi người ở trong phòng xử án đều phải giữ gìn trật tự và tuân theo sự điều khiển của chủ toạ phiên toà. Đối với những người vi phạm trật tự phiên toà, tùy từng trường hợp, chủ toạ phiên toà có thể cảnh cáo, phạt tiền, buộc rời khỏi phòng xử án hoặc bắt giữ.

2. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa

Như trên đã đề cập, hội đồng xét xử là thiết chế được thành lập để trực tiếp thụ lí, giải quyết một vụ án cụ thể. Thành viên hội đồng xét xử do Chánh án của tòa án tương ứng chỉ định, đứng đầu có một thẩm phán chủ tọa phiên tòa. Một thẩm phán có thể đồng thời là thành viên, thậm chí chủ tọa một số hội đồng xét xử. Hội đồng xét xử không phải bộ phận thường trực của tòa án. Khi vụ án được giải quyết xong thì hội đồng xét xử chấm dứt nhiệm vụ. Như vậy, thẩm phán chủ tọa phiên tòa không phải là chức danh hành chính - chuyên môn theo nghĩa các chức danh trên đây. Chức danh này để chỉ người thẩm phán được giao nhiệm vụ chính trong việc giải quyết một vụ án cụ thể. Vị thẩm phán đó chủ trì quá trình xử lí vụ án bởi tòa án và có một số nhiệm vụ, quyền hạn liên quan tới việc tổ chức xét xử vụ án. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cũng là người thay mặt hội đồng xét xử kí xác nhận bản án. Khi vụ án được xét xử xong thì thẩm phán chủ tọa phiên tòa cũng kết thúc nhiệm vụ.

3. Thẩm phán được phân công là chủ tọa phiên tòa được bổ sung một số quyền như:

+ Cụ thể hóa phạm vi biện pháp ngăn chặn được quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ: đó là tất cả các biện pháp ngăn chặn trừ biện pháp tạm giam;

+ Bổ sung quy định đặc trưng nhất, điển hình nhất của Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa mà BLTTHS cũ chưa quy định: đó là điều hành việc xét xử vụ án, tranh tụng tại phiên tòa;

+ Bổ sung quy định về thẩm quyền quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung hoặc giám định lại, thực hiện nghiêm điều tra; thay đổi hoặc yêu cầu thay đổi người giám định; yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu thay đổi người giám định tài sản;

+ Bổ sung thẩm quyền yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội; yêu cầu cử, thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật.

– Thảm phán chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình. Khác với Điều tra viên và Kiểm sát viên, ngoài việc chịu trách nhiệm trước pháp luật còn phải chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng CQĐT và Viện trưởng Viện kiểm sát, Thẩm phán chỉ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật mà không phải chịu trách nhiệm trước Chánh án Tòa án khi tiến hành giải quyết, xét xử vụ án, điều này xuất phát từ nguyên tắc Thẩm phán xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

4. Vai trò của thẩm phán thông qua kỹ điều hành phiên tòa

Chất lượng tranh tụng tại phiên tòa có được nâng cao hay không, phụ thuộc chủ yếu vào kỹ năng điều hành phần tranh tụng của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử cũng như kết quả phiên tòa tốt hay không tốt phụ thuộc chủ yếu vào vai trò của chủ toạ phiên toà vì:

Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự thì tại phiên toà sơ thẩm hình sự, Chủ tọa phiên tòa vừa là người tiến hành tố tụng vừa là người điều khiển toàn bộ hoạt động tố tụng tại phiên tòa của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng khác.

Với vai trò là người tiến hành tố tụng, chủ tọa phiên tòa phải thực hiện đầy đủ, chính xác các công việc mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định, đồng thời phải chịu trách nhiệm chính về những vấn đề Bộ luật tố tụng hình sự quy định đối với Hội đồng xét xử, thay mặt Hội đồng xét xử công bố những quyết định đã được thông qua trong phòng nghị án cũng như tại phòng xử án.

Với vai trò của người điều khiển phiên tòa, chủ tọa phiên tòa phải là người tổ chức, người chỉ huy cao nhất đối với mọi hoạt động tố tụng và hành vi tố tụng tại phòng xử án.

Để điều khiển việc tranh tụng đạt kết quả theo ý muốn, đòi hỏi chủ tọa phiên tòa phải là người nắm chắc các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; đọc kỹ hồ sơ vụ án; dự kiến các tình huống có thể xảy ra tại phiên tòa, có kế hoạch xét hỏi chặt chẽ, cụ thể và chủ động tìm biện pháp giải quyết mọi tình huống xảy ra tại phiên tòa.

5. Về địa vị pháp lý và vai trò của Hội Thẩm nhân dân trong công tác xét xử

Việc nhân dân tham gia hoạt động xét xử của Tòa án được thể hiện tập trung nhất thông qua chế định về Hội thẩm nhân dân. Đây là một chế định được ghi nhận trong tất cả các bản Hiến pháp (từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013).

Bản thân chế định Hội thẩm là sự thể hiện tư tưởng “lấy dân làm gốc”, bảo đảm nguyên tắc thực hiện quyền lực của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án, thể hiện bản chất nhà nước của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 (Điều 103) và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 (Điều 8, 9) thì việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia; Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Như vậy, thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia và địa vị pháp lý của Hội thẩm khi xét xử độc lập với Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật là nguyên tắc hiến định.

Các văn bản pháp luật tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và tố tụng hành chính đều ghi nhận nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia và Hội thẩm được xác định là một trong những người tiến hành tố tụng. Khi được phân công giải quyết vụ án thì Hội thẩm có các nhiệm vụ như: nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa; tham gia xét xử các vụ án theo thủ tục sơ thẩm các loại vụ án ; tiến hành các hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử; Hội thẩm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình. Về số lượng Hội thẩm tham gia Hội đồng xét xử, pháp luật tố tụng quy định thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm: 01 Thẩm phán và 02 Hội thẩm; trong trường hợp vụ án có tính chất phức tạp, nghiêm trọng thì Hội đồng xét xử có thể gồm 02 Thẩm phán và 03 Hội thẩm. Về nguyên tắc xét xử, Điều 10 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định: “Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số…”.

Với các quy định nêu trên thì Hội thẩm có địa vị pháp lý và vai trò rất quan trọng trong công tác xét xử, vì khi tham gia xét xử ở cấp sơ thẩm, Hội thẩm chiếm đa số trong Hội đồng xét xử (2/3 hoặc 3/5) và khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán khi ra các phán quyết về vụ án. Như vậy, khi xét xử nếu ý kiến biểu quyết của các Hội thẩm là giống nhau và khác với ý kiến của Thẩm phán thì quyết định của Hội đồng xét xử phải theo ý kiến của các Hội Thẩm (đa số), mặc dù là người xét xử có tính chất chuyên nghiệp thì Thẩm phán cũng chỉ có quyền bảo lưu ý kiến của mình và đề nghị Tòa án cấp trên xem xét.

Nhận thức rõ địa vị pháp lý và vai trò quan trọng của Hội thẩm trong công tác Tòa án, cũng như yêu cầu đặt ra đối với việc xây dựng đội ngũ Hội thẩm bảo đảm về tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật và đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu giải quyết, xét xử các loại vụ án, Tòa án nhân dân tối cao đã phối hợp với Ủy ban Trung ương mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Bộ Nội vụ (thay mặt cho Chính phủ) ban hành nhiều văn bản liên quan tới công tác Hội thẩm, như: Thông tư liên tịch số 01/2004/TTLT-TANDTC-UBTWMTTQVN ngày 01/3/2004 của Tòa án nhân dân tối cao và Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn về việc chuẩn bị nhân sự và giới thiệu bầu Hội thẩm Tòa án nhân dân; Quy chế về tổ chức và hoạt động của Hội thẩm Tòa án nhân dân (ban hành kèm theo Nghị quyết liên tịch số 05/2005/NQLT-TANDTC-BNV-UBTWMTTQVN ngày 05/12/2005 của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) và Nghị quyết số 1213/2016/UBTVQH13 ngày 13 tháng 6 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn Hội thẩm nhân dân.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)