1.Chuẩn bị xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn được quy định như thế nào?

Thời hạn chuẩn bị xét xử là khoảng thời gian kể từ sau khi Toà án nhận hồ sơ vụ án cho đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Quy định của pháp luật về chuẩn bị xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự 2015, cụ thể như sau:

Một là, việc nhận và thụ lý hồ sơ vụ án được Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án phải chuyển ngay hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 05 ngày Viện kiểm sát phải trả hồ sơ vụ án cho Tòa án.

Hai là, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công xét xử ra một trong các quyết định:

+ Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.

+ Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án.

Ba là, trường hợp quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định, Tòa án phải mở phiên tòa xét xử vụ án.

Bốn là, trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi quyết định đó cho Viện kiểm sát cùng cấp, người bào chữa; giao cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ.

2. Thủ tục xét xử phúc thẩm theo quy định của pháp luật

Pháp luật nước ta hiện nay vẫn tuân theo nguyên tắc bảo đảm xét xử sơ thẩm, phúc thẩm theo điều 27 BLTTHS 2015:

“1. Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm. Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này.

Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật.

Bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án có hiệu lực pháp luật.”

Thẩm quyền xét xử phúc thẩm vụ án hình sự

Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị

Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh thuộc kháng cáo, kháng nghị.

Tòa án quân sự trung ương có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án quân sự cấp quân khu bị kháng cáo, kháng nghị.

3. Phạm vi xét xử phúc thẩm vụ án hình sự và Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án hình sự

Phạm vi xét xử phúc thẩm vụ án hình sự

  • Tòa án cấp phúc thẩm xem xét phần nội dung của bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị. Nếu xét thấy cần thiết, có thể xem xét các phần khác của bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị.

Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án hình sự

  • Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn 60 ngày; Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự trung ương phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án.
  • Trong thời hạn 45 ngày đối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu, 75 ngày đối với vụ án Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự trung ương kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ toạ phiên tòa phải ra một trong các quyết định:

a) Đình chỉ xét xử phúc thẩm;

b) Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa phúc thẩm.

Chậm nhất là 10 ngày trước khi mở phiên tòa, Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát cùng cấp, người bào chữa, bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị.

4. Chuẩn bị xét xử phúc thẩm (Điều 464 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015)

Việc nhận hồ sơ và thụ lý hồ sơ vụ án được Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện theo thủ tục chung về xét xử phúc thẩm. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án phải chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hợn 05 ngày, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ vụ án cho Tòa án.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công xét xử ra một trong các quyết định: Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm hoặc đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án.

Nếu quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định, Tòa án phải mở phiên tòa xét xử vụ án.

Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi quyết định đó cho Viện kiểm sát cùng cấp, người bào chữa; giao cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ.

5. Những vấn đề đặt ra cho thủ tục xét xử phúc thẩm trong cải cách tư pháp

Những vướng mắc

- Vướng mắc đầu tiên đó là quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục phúc thẩm chưa thật rõ ràng, việc hướng dẫn và giải thích chưa kịp thời. Điều đó dẫn đến nhận thức khác nhau về tính chất, quy trình, phạm vi, quyền hạn của tòa phúc thẩm. Ví dụ việc Tòa án cấp phúc thẩm có thể xử bị cáo theo tội danh nặng hơn; quyền của Tòa án cấp phúc thẩm quyết định chuyển từ hình phạt tù được hưởng án treo sang hình phạt tù giam; các căn cứ để Tòa án cấp phúc thẩm hủy án trong một số trường hợp như không có kháng cáo, kháng nghị, hủy án do vi phạm thủ tục tố tụng.

- Chất lượng xét xử phúc thẩm chưa cao. Một số bản án phúc thẩm bị Tòa án cấp giám đốc thẩm hủy để điều tra lại và xét xử lại. (Ví dụ, Tòa án nhân dân tối cao qua xét xử giám đốc thẩm năm 2002 đã hủy để điều tra lại và xét xử lại 62,21% số vụ án, năm 2007 lả 55,93%, do sai lầm về định tội danh, áp dụng hình phạt quá nhẹ, áp dụng không đúng chế định án treo, có nhiều vi phạm nghiêm trọng tố tụng hình sự...)

Số lượng vụ án tồn đọng của cấp phúc thẩm khá nhiều. Nguyên nhân là do Thẩm phán quá tải, bình quân 1 Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao 1 năm xử khoảng 200 vụ phúc thẩm. Ngoài ra, tổ chức của các Tòa Phúc thẩm thuộc Tòa án nhân dân tối cao hiện đang có nhiều vấn đề bất hợp lý cần được nghiên cứu đổi mới. Hiện nay ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam đều đang có một Tòa Phúc thẩm thuộc Tòa án nhân dân tối cao có trụ sở tại Hà Nội, Đà Năng và thành phố Hồ Chí Minh. Mỗi Tòa Phúc thẩm đảm nhận một địa bàn xét xử phúc thẩm trên phạm vi lớn, thậm chí đến gần 30 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Vì nhiều lý do khác nhau, mỗi đợt xét xử phúc thẩm tại các địa phương thường kéo dài trong nhiều ngày, nhiều trường hợp phải hoãn phiên tòa, mất thời gian, công sức trong việc đi lại và tổ chức các phiên tòa lưu động, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và hiệu quả hoạt động xét xử phúc thẩm. Đây là nguyên nhân dẫn đến sự tồn đọng án phúc thẩm ở Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao trong thời gian qua.

Những vấn đề đặt ra trong lĩnh vực xét xử phúc thẩm

Những đòi hỏi của cải cách tư pháp cần được đáp ứng bằng việc thực hiện một loạt nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án như nguyên tắc độc lập xét xử, nguyên tắc hai cấp xét xử, việc xét xử của Tòa án có Hội thẩm tham gia, khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán; nguyên tắc Tòa án xét xử công khai; nguyên tắc quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm; nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắc suy đoán vô tội..., trong đó, nguyên tắc hai cấp xét xử có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, chi phối và tác động mạnh đến xét xử phúc thẩm.

Về mặt lý thuyết, phúc thẩm hình sự cần được nhìn nhận từ các khía cạnh khác nhau: Là một giai đoạn của tố tụng hình sự; là một chế định pháp luật; là một thủ tục tố tụng.

Ở khía cạnh là một thủ tục tố tụng, đã có cách hiểu thống nhất trong giới nghiên cứu trong pháp luật và trong thực tiễn, đó là hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm. Tuy nhiên, theo các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện nay về thủ tục giám đốc thẩm, thì trên thực tế, hoạt động giám đốc thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án vẫn được coi là một "cấp" xét xử. Bởi lẽ, một bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực lại có thể được giám đốc lại một số lần (Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Toà chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao). Điều này không những trái với nguyên tắc hai cấp xét xử mà còn tạo ra nhận thức không đúng trong xã hội, đó là một khi chưa đưa vụ việc ra tới Tòa án nhân dân tối cao hoặc thậm chí cấp cao hơn nữa (Chủ tịch nước, Quốc hội, v.v.) thì vụ việc coi như vẫn chưa chấm dứt. Nhận thức đó là một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng khiếu nại không có căn cứ, không thi hành bản án dù đã có hiệu lực pháp luật để tiếp tục theo kiện. Thêm vào đó, việc giải quyết một vụ án qua nhiều cấp giám đốc thẩm gây tốn kém thời gian và các nguồn lực của Nhà nước, của xã hội.

Về khía cạnh tổ chức, hiện nay vẫn còn những ý kiến tranh luận xung quanh vấn đề xây dựng các Tòa án trên cơ sở nguyên tắc hai cấp xét xử. Một số ý kiến cho rằng nên xây dựng các Tòa án theo hướng mỗi cấp Tòa án là một cấp xét xử (sẽ có các Tòa án sơ thẩm và các Tòa án phúc thẩm), còn Tòa án nhân dân tối cao đứng trên toàn bộ hệ thống. Loại ý kiến này lập luận rằng tổ chức Tòa án theo phương thức trên sẽ đơn giản hóa được hệ thống, tách biệt rõ ràng thẩm quyền của mỗi Tòa án. Tuy nhiên một khó khăn mà phương án này vấp phải là với trình độ hiện nay, Thẩm phán ở các Tòa án cấp sơ thẩm dường như chưa đảm đương nổi nhiệm vụ xét xử các vụ án nghiêm trọng, phức tạp. Loại ý kiến khác cho rằng vẫn nên giữ nguyên các Tòa án với sự phân cấp thẩm quyền như hiện nay vì ngay cả ở những nước áp dụng triệt để nguyên tắc hai cấp xét xử trên thế giới, việc tổ chức các Tòa án thành 3 hay 4 cấp cũng vẫn là điều bình thường.

Như vậy, trong cải cách tư pháp, cần phân định lại thẩm quyền xét xử giữa Tòa án các cấp và tổ chức hệ thống Tòa án theo nguyên tắc hai cấp xét xử.

Việc phân định lại thẩm quyền xét xử giữa Tòa án các cấp hiện nay phải tiếp tục theo hướng đảm bảo Tòa án mỗi cấp chủ yếu thực hiện một thẩm quyền xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm, hạn chế tiến tới chấm dứt tình trạng một Tòa án thực hiện cả thẩm quyền xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, biến giám đốc thẩm từ một thủ tục đặc biệt trở thành cấp xét xử thứ 3 và thuộc thẩm quyền của nhiều cấp Tòa án dẫn đến tố tụng lòng vòng, không có điểm dừng.

Cần tổ chức Tòa án theo thẩm quyền xét xử không phụ thuộc hoàn toàn vào địa hạt hành chính, theo đó, hệ thống Tòa án sẽ bao gồm các toà sơ thẩm khu vực, các Tòa án phúc thẩm, các toà thượng thẩm và Tòa án nhân dân tối cao. Kết hợp với tinh thần phân cấp mạnh mẽ trong cải cách hành chính, thẩm quyền xét xử sơ thẩm cần được giao chủ yếu cho Tòa án cấp thấp nhất trong hệ thống Tòa án; thẩm quyền xét xử phúc thẩm chủ yếu thuộc về Tòa án cấp thứ hai.

Cụ thể mô hình tổ chức của hệ thống Tòa án cần được thiết kế như sau:

- Tòa án sơ thẩm có thẩm quyền xét xử sơ thẩm hầu hết các vụ án hình sự. Các Tòa án sơ thẩm được tổ chức theo khu vực, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính (cấp huyện). Các tiêu chí làm căn cứ thành lập Tòa án sơ thẩm khu vực là địa bàn, dân cư giao thông, số lượng các vụ án trong một năm phải xét xử của mỗi Tòa án, trong đó yếu tố số lượng vụ án xét xử hàng năm là tiêu chuẩn chính.

- Tòa phúc thẩm (tương đương Tòa án cấp tỉnh hiện nay) có thẩm quyền chủ yếu xét xử lần thứ hai các bản án do Tòa án sơ thẩm xử lần đầu nhưng bị kháng cáo, kháng nghị; đồng thời Toà phúc thẩm cũng có thẩm quyền xử lần đầu một số ít vụ án đặc biệt phức tạp, nghiêm trọng.

- Tòa thượng thẩm khu vực/miền (thay cho các Tòa phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao hiện nay) thực hiện chức năng xét xử phúc thẩm các vụ án do Toà phúc thẩm xử lần đầu nhưng bản án bị kháng cáo, kháng nghị. Các Toà thượng thẩm cũng được tổ chức theo khu vực/miền không phụ thuộc vào đơn vị hành chính lãnh thổ, có thể theo hướng được thành lập ở các trung tâm miền như Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ hoặc ở một vài tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác có vị trí địa lý trung tâm của khu vực tuỳ theo nhu cầu thực tiễn

- Tòa án nhân dân tối cao chủ yếu thực hiện hướng dẫn đường lối xét xử và áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ; là toà duy nhất có thẩm quyền xét xử theo thủ tục đặc biệt (giám đốc thẩm, tái thẩm) đôi với một số ít bản án do các Tòa án cấp dưới xử đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị.

Cách tổ chức Tòa án theo hướng này sẽ khắc phục được những bất cập trước mắt như: việc đầu tư cán bộ, cơ sở vật chất, phương tiện làm việc có trọng điểm hơn; điều chỉnh được sự quá tải của các Tòa án quận ở các thành phố lớn hoặc tình trạng quá ít công việc của các Tòa án cấp huyện ở nhiều địa bàn nông thôn, miền núi. Mặt khác, xét về lâu dài, cách tổ chức này là một trong những biện pháp quan trọng bảo đảm cho Tòa án độc lập trong hoạt động xét xử.