1. Cách nhìn nhận của các quốc gia về chức năng Chủ yếu Giải quyết Tranh chấp của WTO
Lịch sử thương lượng đằng sau động thái luật hóa việc giải quyết tranh chấp của GATT/WTO cho thấy rằng người ta không có ý định dẫn nó đến làm luật tư pháp mở rộng.
Việc chuyển sang cách giải quyết tranh chấp tự động và bắt buộc và thành lập Cơ quan Phúc thẩm theo con mắt của Hoa Kỳ là một cơ hội để thúc đẩy sự thực thi và tuân thủ các thỏa thuận đã được làm ra trong quá trình lập pháp - ngay cả khi các thỏa thuận đó không có hiệu quả tối ưu và ngay cả khi chúng không được coi là công bằng. Quy trình giải quyết tranh chấp là để hoàn thành mục đích đó bằng cách đưa ra một quy trình tư pháp trung lập nhằm cưỡng chế các hiệp định WTO. Sự phân tích trước của chúng tôi về quy trình làm luật và các kết quả cho thấy rằng EC và Hoa Kỳ đã có khả năng chi phối sự mặc cả và kết quả có liên quan đến các hiệp định WTO. Hoa Kỳ đã có mong muốn và còn mong muốn trao thẩm quyền giải quyết tranh chấp cho WTO để cưỡng chế các hiệp định đó. Chính phủ Hoa Kỳ có thể thắng một vài vụ kiện, và có thể thua một vài vụ kiện, nhưng thua trong việc giải quyết tranh chấp của WTO có hậu quả nhỏ nếu như hệ quả chung của hệ thống là giúp thực thi các hiệp định then chốt mà Hoa Kỳ ủng hộ. Do đó, tùy thuộc vào mức độ hoạt động có hiệu quả đến đâu mà chức năng tư pháp sẽ giúp tăng cường sự ủng hộ chính trị của các nước lớn đối với WTO.
Các chính phủ khác cũng có cách nhìn hệ thống giải quyết tranh chấp tương tự, mặc dù từ góc độ khác nhau. Họ cũng muốn hiệp định được thực thi. John Jackson lập luận rằng việc luật hóa và xét xử sẽ giúp các thành viên yếu hơn nhờ giảm bớt phạm vi sử dụng quyền lực túy tiện (Jackson 1997a). Nhiều thành viên yếu hơn coi việc tăng cường luật hóa giải quyết tranh chấp của GATT/WTO như là sự hạn chế quyết định đơn phương của Hoa Kỳ đối với các điều khoản của hiệp định. Theo cách nhìn của Hoa Kỳ, nhận thức của bên ngoài như thế là có ích về chính trị: DSU sẽ cho một phương tiện nhờ đó chính phủ Mỹ có thể thách thức một cách hợp pháp các hoạt động không phù hợp với WTO của chính phủ các nước, và nó đồng thời giúp giải quyết vấn đề tín nhiệm của Hoa Kỳ do chú nghĩa đơn phương gây ra.
2. Sự ra đời của DSU
Kết quả là có một DSU vận hành đồng bộ gần như hoàn hảo với Điều luật 301 để tạo ra những sự khuyến khích chính phủ các nước tuân thủ các nghĩa vụ WTO của mình - và để kiềm chế chủ nghĩa đơn phương của Hoa Kỳ khi chính phủ các nước tuân thú. Theo các điều khoản của đạo luật này, Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) có thể không trả đũa nếu cơ quan giải quyết tranh chấp WTO (DSB) kết luận rằng chính phủ nước ngoài đó hành động phù hợp với WTO; nhưng USTR sẽ phải trả đũa nếu DSB kết luận rằng chính phủ nước ngoài hành động không phù hợp với WTO và không tuân thủ các quyết định của DSB. Vì lịch trình của DSU đã được soạn thảo phù hợp với kế hoạch điều tra và trả đũa được quy định trong Điều luật 301, trong việc thực thi DSU, Hoa Kỳ hầu như không cần phải thay đổi gì đối với Điều luật 301.
Cách thức đe dọa trả đũa sẽ được áp dụng thường khiến bên bị đe dọa phải tuân thủ quy định. Chẳng hạn, theo các quy định được ban hành kèm theo Điều luật 301, Chính phủ Hoa Kỳ công bố một danh sách các trường hợp dự kiến sẽ bị trả đũa trong Công báo Liên bang (Federal Register) 30 ngày trước ngày trả đũa có hiệu lực. Thông thường, bản danh sách các trường hợp dự kiến sẽ bị trả đũa hệt kê hàng chục các sản phẩm do các nhà sản xuất có thế lực chính trị tại các nước vi phạm hiệp định sản xuất. Điều này có tác dụng đặt các nhà sản xuất có thế lực chính trị vào thế chống lại ngành công nghiệp đã ủng hộ các biện pháp vi phạm hiệp định. Nếu nhắm mục tiêu một cách khôn ngoan, danh sách trả đũa dự kiến sẽ huy động đủ sức mạnh chính trị trong nước vi phạm hiệp định để gây ảnh hưởng đến cải cách phũ hợp với WTO. Bằng cách này, DSU vận hành phối hợp với các luật lệ, các quy định và chính trị trong nước để thúc đẩy có những kết quả lập pháp được thông qua phù hợp với các thỏa thuận WTO (Goldstein và Martin 2000).
Do đó, theo cách nhìn của chính phủ Hoa Kỳ, các cuộc cải cách tư pháp triệt để của Vòng Uruguay không phải đại diện cho sự đa phương hóa chú nghĩa đơn phương của Hoa Kỳ, mà là Hoa Kỳ hóa quy trình giải pháp tranh chấp của GATT/WTO.
3. Tìm hiểu về các biện pháp bồi thường và trả đũa
Bồi thường và trả đũa là các biện pháp giải quyết tạm thời được sử dụng nhằm đảm bảo lợi ích của Bên thắng kiện trong thời gian Bên thua kiện không thể thực hiện được khuyến nghị của Cơ quan Giải quyết Tranh chấp (DSB) (giai đoạn trong khi chờ đợi Bên thua kiện thực hiện khuyến nghị). Các biện pháp này không làm chấm dứt nghĩa vụ thực hiện khuyến nghị của Bên vi phạm.
Cụ thể, nếu Bên thua kiện tạm thời không thể thực hiện được khuyến nghị của Cơ quan Giải quyết Tranh chấp, các Bên tranh chấp có thể thỏa thuận về khoản bồi thường. Việc bồi thường phải được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện và phù hợp với hiệp định có liên quan.
Nếu các Bên không đạt được thỏa thuận về việc bồi thường trong vòng 20 ngày kể từ khi hết hạn thực hiện khuyến nghị, Bên thắng kiện có thể yêu cầu Cơ quan Giải quyết Tranh chấp cho phép áp dụng các biện pháp trả đũa song song hoặc trả đũa chéo. Cần lưu ý là Quy tắc Giải quyết tranh chấp trong WTO (DSU) nghiêm cấm việc trả đũa đơn phương mà không có sự chấp thuận của cơ quan này (quy định này thực chất nhằm chấm dứt hiện tượng trả đũa đơn phương khá phổ biến trong thực tiễn giải quyết tranh chấp của GATT 1947). Mức độ và thời hạn trả đũa do Cơ quan Giải quyết tranh chấp (DSB) quyết định căn cứ trên thủ tục quy định về vấn đề này trong Quy tắc Giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO (DSU).
Trả đũa song song thực chất là việc Bên thắng kiện không phải thực hiện các nhân nhượng thuế quan đối với hàng hoá của Bên thua kiện trong cùng lĩnh vực mà Bên thắng kiện bị thiệt hại.
Trả đũa chéo là hình thức trả đũa nhằm vào lĩnh vực khác lĩnh vực bị thiệt hại trong trường hợp việc trả đũa song song không thể thực hiện được (có thể trả đũa chéo lĩnh vực – khác lĩnh vực nhưng trong cùng phạm vi điều chỉnh của một hiệp định; hoặc trả đũa chéo hiệp định – trả đũa trong một lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của một hiệp định khác nếu việc trả đũa song song và trả đũa chéo lĩnh vực đều không thể thực hiện được).
4. Môi giới, Trung gian, Hoà giải (Good Office, Mediation, Consultation)
Bên cạnh thủ tục tham vấn, DSU còn quy định các hình thức giải quyết tranh chấp mang tính “chính trị” khác như môi giới , trung gian, hoà giải. Các hình thức này được tiến hành trên cơ sở tự nguyện, bí mật giữa các Bên tại bất kỳ thời điểm nào sau khi phát sinh tranh chấp (ngay cả khi Ban hội thẩm đã được thành lập và đã tiến hành hoạt động). Tương tự như vậy, các thủ tục này cũng có thể chấm dứt vào bất kỳ lúc nào. DSU không xác định bên nào (nguyên đơn hay bị đơn) có quyền yêu cầu chấm dứt nên có thể hiểu là tất cả các bên tranh chấp đều có quyền yêu cầu chấm dứt các thủ tục này. Chức năng môi giới, trung gian, hoà giải do Tổng Thư ký WTO đảm nhiệm (Điều 5 DSU). Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có quy định về việc liệu một cá nhân hoặc một tổ chức có thể đứng ra đảm trách vai trò môi giới, trung gian, hoà giải này không. Với các ưu thế nhất định như tiết kiệm được về thời gian, tiền bạc, quan hệ hữu hảo giữa các bên tranh chấp… các phương thức chủ yếu dựa trên đàm phán ngoại giao này được DSU đặc biệt khuyến khích sử dụng (Điều 3.7 DSU), và việc tìm ra được một giải pháp hợp lý thỏa mãn tất cả các bên tranh chấp có lẽ còn được coi trọng hơn cả việc đạt được một giải pháp phù hợp với các quy tắc thương mại trong Hiệp định.
5. Tìm hiểu về biện pháp trọng tài
Thủ tục trọng tài có thể được các Bên tranh chấp thỏa thuận sử dụng trong các trường hợp sau đây:
Trong khuôn khổ cơ chế giải quyết tranh chấp DSU: trọng tài có thể được sử dụng trong các thủ tục sau:
- Xác định thời hạn thực hiện khuyến nghị trong trường hợp Bên thua không thể thực hiện ngay khuyến nghị;
- Xác định mức độ trả đũa trong trường hợp Bên thua có kiến nghị về vấn đề này.
Trong trường hợp này thủ tục trọng tài sẽ do các thành viên Ban hội thẩm ban đầu làm trọng tài viên. Nếu các thành viên Ban hội thẩm không có điều kiện làm trọng tài viên thì trọng tài viên (là một cá nhân hoặc một tổ chức) sẽ do Tổng Thư ký WTO chỉ định.
Trường hợp tranh cãi về mức độ trả đũa, trọng tài không đánh giá về bản chất biện pháp trả đũa mà chỉ xem xét xem mức độ Bên thắng kiện đình chỉ các nhân nhượng/nghĩa vụ có tương đương với mức độ thiệt hại mà Bên thắng kiện đã phải chịu không.
Ngoài khuôn khổ cơ chế giải quyết tranh chấp DSU:
Các Bên tranh chấp có thể thỏa thuận lựa chọn cơ chế trọng tài độc lập để giải quyết tranh chấp của mình mà không cần sử dụng đến cơ chế của DSU (cơ chế sử dụng Ban hội thẩm, Cơ quan Phúc thẩm…). DSU chỉ cho phép sử dụng trọng tài để giải quyết các tranh chấp trong đó vấn đề tranh chấp (the isssues in conflict) đã được các bên xác định một cách rõ ràng và thống nhất.
Trong trường hợp này, quyết định lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài độc lập phải được các Bên tranh chấp thông báo đến tất cả các thành viên WTO trước khi thủ tục tố tụng được bắt đầu. Các thành viên WTO chỉ có thể tham gia thủ tục tố tụng nếu được các Bên tranh chấp đồng ý.
Quyết định giải quyết của trọng tài phải được các Bên tuân thủ nghiêm túc. Các Bên có nghĩa vụ thông báo về quyết định này cho các thành viên WTO, cho Hội đồng hoặc cho Uỷ ban của Hiệp định có liên quan. Quy tắc giải quyết tranh chấp trong WTO (DSU) quy định quyết định này của trọng tài phải phù hợp với các hiệp định có liên quan và không được gây thiệt hại cho bất kỳ thành viên nào khác của WTO. Bất kỳ thành viên nào cũng có quyền đưa ra câu hỏi liên quan đến quyết định này.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)