1. Thủ tục chuyển hồ sơ xử lý truy cứu trách nhiệm hình sự?

Xin chào luật sư! Tôi xin trình bày sự việc như sau: ” Ngày 11/03/2018 bạn tôi có vận chuyển 500 bao thuốc lá ngoại nhập lậu và bị CSKT bắt giữ (kèm theo là biên bản tạm giữ tang vật và phương tiện). Đến ngày 25/03/2018 đội CSKT ra biên bản vi phạm hành chính với bạn tôi. Sau đó hồ sơ được chuyển về UBND tỉnh để ra quyết định xử phạt. Đến ngày 29/04/2018 UBND tỉnh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính”.

Trong suốt quá trình xử lý bạn tôi không có yêu cầu giải trình. Qua sự việc như trên luật sư vui lòng cho tôi hỏi, đội CSKT ra biên bản vi phạm hành chính như vậy có đúng với trình tự thủ tục của pháp luật không? Quyết định xử phạt của UBND tỉnh ban hành có đúng với thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính được quy định trong Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 không?

- Luật sư cho hỏi sự việc nêu trên của bạn tôi có phải là “trường hợp vụ việc đặc biệt nghiêm trọng”không?.

- ”Người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc” ở sự việc nêu trên là ai (Chủ tịch tỉnh hay CSKT)? Nếu bây giờ bạn tôi khởi kiện quyết định của UBND tỉnh ra tòa hành chính thì có bao giờ xảy ra trường hợp bị quay lại khởi tố hình sự không?

Xin cảm ơn luật sư rất nhiều.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Thứ nhất: lập biên bản vi phạm hành chính: Căn cứ khoản 1 Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012

Điều 58. Lập biên bản vi phạm hành chính

1. Khi phát hiện vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản lý của mình, người có thẩm quyền đang thi hành công vụ phải kịp thời lập biên bản, trừ trường hợp xử phạt không lập biên bản theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật này.

Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì việc lập biên bản vi phạm hành chính được tiến hành ngay khi xác định được tổ chức, cá nhân vi phạm.

Vi phạm hành chính xảy ra trên tàu bay, tàu biển, tàu hỏa thì người chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu có trách nhiệm tổ chức lập biên bản và chuyển ngay cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính khi tàu bay, tàu biển, tàu hỏa về đến sân bay, bến cảng, nhà ga.

Như vậy CSKT khi đang làm nhiệm vụ phát hiện hành vi vi phạm thì có quyền lập biên bản theo quy định nêu trên.

Theo Nghị định 124/2015/NĐ-CP sửa đổi bổ sung, bãi bỏ một số điều của Nghị định 184/2013/NĐ-CP quy định về trường hợp của bạn như sau:

Điều 25. Hành vi vi phạm về buôn bán, vận chuyển, tàng trữ, giao nhận hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu

2. Đối với hành vi buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu có số lượng từ 500 bao trở lên thì người có thẩm quyền đang thụ lý vụ việc phải chuyển ngay hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Điều 62 Luật Xử lý vi phạm hành chính; trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng có quyết định không khởi tố vụ án hình sự thì phạt tiền từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Điều 62 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định:

Điều 62. Chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự

1. Khi xem xét vụ vi phạm để quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nếu xét thấy hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm, thì người có thẩm quyền xử phạt phải chuyển ngay hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.

2. Trong quá trình thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nếu hành vi vi phạm được phát hiện có dấu hiệu tội phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì người đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định đó và trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày tạm đình chỉ phải chuyển hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự; trường hợp đã thi hành xong quyết định xử phạt thì người đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải chuyển hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.

3. Cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có trách nhiệm xem xét, kết luận vụ việc và trả lời kết quả giải quyết bằng văn bản cho người có thẩm quyền đã chuyển hồ sơ trong thời hạn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự; trường hợp không khởi tố vụ án hình sự thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng phải trả hồ sơ vụ việc cho người có thẩm quyền xử phạt đã chuyển hồ sơ đến.

Trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, nếu cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có quyết định khởi tố vụ án thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải huỷ bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính và chuyển toàn bộ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và tài liệu về việc thi hành quyết định xử phạt cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.

4. Việc chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự phải được thông báo bằng văn bản cho cá nhân vi phạm.

Như vậy trong trường hợp bạn cần tư vấn, bạn của bạn đã buôn lậu 500 bao thuốc lá, theo nghị định 124/2015/NĐ-CP nêu trên thì vụ việc phải được chuyển cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự, Khi phát hiện ra dấu hiệu tội phạm hình sự theo quy định tại mục 22 điều 1 Nghị định 124/2014/NĐ-CP thì vụ việc sẽ được chuyển hồ sơ vi phạm sang cho cơ quan tố tụng hình sự để điều tra theo quy định tại điều 62 Luật xử lý vi phạm hành hính 2012.

Căn cứ quy định điểm b khoản 1 Điều 191 BLHS 2015 SĐBS 2017 quy định:

Điều 191. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm

1.125 Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng từ 50 kilôgam đến dưới 100 kilôgam hoặc từ 50 lít đến dưới 100 lít;

b) Thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến dưới 3.000 bao;

Mặc dù thẩm quyền của chủ tịch UBND tỉnh vi phạm hành chính được quy định tại Điều 101 Nghị định 185/2013/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả như sau:

Điều 101. Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp

....

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến mức tối đa theo quy định tại Nghị định này;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

d) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;

đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này theo thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Trong trường hợp của bạn khi đã chuyển hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng rồi, trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng có quyết định không khởi tố vụ án hình sự do chưa đủ số lượng bao thuốc lá 1500 bao để truy cứu trách nhiệm hình sự thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ ra quyết định phạt tiền từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Do đó trường hợp chủ tịchUBND tỉnh ra quyết định xử phạt là không đúng.

Thứ ba: đây không phải là trường hợp đặc biệt nghiêm trọng

Theo điểm d khoản 1 Điều 9 phân loại tội phạm trong BLHS 2015 SĐBS 2017:

Điều 9. Phân loại tội phạm

1. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy him cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:

....

d) Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

>> Xem thêm:  Phân tích cơ sở pháp lý phán quyết của tòa án ?

2. Xử lý vi phạm hành chính khi có dấu hiệu tội phạm nhưng chưa đến mức xử lý hình sự ?

Xin chào công ty luật Minh Khuê, một người anh của tôi thực hiện hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm nhưng chưa đến mức xử lý hình sự, và bị cơ quan công an ra quyết định xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên anh tôi không thực hiện việc nộp phạt tại kho bạc theo quy định.

Vậy sau này anh tôi có được xóa tiền sự không, nếu có thì sau bao lâu mới được xóa. Hay nếu không thực hiện việc nộp phạt thì không bao giờ được xóa ?

Cảm ơn.

Trả lời:

Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính:

"1. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

2. Cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nếu trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc 01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính."

Như vậy, trong thời hạn 01 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính mà không tái phạm nữa thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.Tuy nhiên trong trường hợp này do anh bạn chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định nên sẽ không được xóa tiền sự, vì thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính chỉ được tính từ thời điểm sau 01 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính và không tái phạm.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tham gia bào chữa cho bị can, bị cáo

3. Kê biên tài sản trong xử phạt vi phạm hành chính

Người vi phạm hành chính không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện việc nộp tiền phạt hay biện pháp khắc phục hậu quả mà quá thời gian quy định thì cơ quan chức năng yêu cầu cho họ tự kê biên tài sản chung, riêng và ghi mức thu nhập chính của vợ hoặc chồng người vi phạm trước khi ra quyết định kê biên tài sản thì có đúng pháp luật không?

Điều 22 Nghị định 166/2013/NĐ-CP quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính quy định về Tổ chức thi hành cưỡng chế kê biên tài sản

"1. Việc kê biên tài sản phải thực hiện vào ban ngày, thời gian từ 08 giờ đến 17 giờ.

2. Người ra quyết định cưỡng chế hoặc người được phân công thực hiện quyết định cưỡng chế chủ trì thực hiện việc kê biên.

3. Khi tiến hành kê biên tài sản phải có mặt cá nhân bị cưỡng chế hoặc người thành niên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự trong gia đình, đại diện tổ chức bị kê biên tài sản, đại diện chính quyền địa phương và người chứng kiến.

Nếu cá nhân phải thi hành quyết định cưỡng chế hoặc người thành niên trong gia đình cố tình vắng mặt, thì vẫn tiến hành kê biên tài sản nhưng phải có đại diện chính quyền địa phương và người chứng kiến.

4. Cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế có quyền đề nghị kê biên tài sản nào trước, người được giao chủ trì kê biên phải chấp nhận nếu xét thấy đề nghị đó không ảnh hưởng đến việc cưỡng chế.

Nếu cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế không đề nghị cụ thể việc kê biên tài sản nào trước thì tài sản thuộc sở hữu riêng được kê biên trước.

5. Chỉ kê biên những tài sản thuộc sở hữu chung của cá nhân bị cưỡng chế với người khác nếu cá nhân bị cưỡng chế không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thi hành quyết định cưỡng chế. Trường hợp tài sản có tranh chấp thì vẫn tiến hành kê biên và giải thích cho những người cùng sở hữu tài sản kê biên về quyền khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự.

Cơ quan tiến hành kê biên có trách nhiệm thông báo công khai thời gian, địa điểm tiến hành kê biên để các đồng sở hữu biết. Hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày kê biên mà không có người khởi kiện thì tài sản kê biên được đem bán đấu giá theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản"

Theo quy định trên thì việc kê biên tài sản phải do người ra quyết định cưỡng chế hoặc người được phân công thực hiện quyết định cưỡng chế trực tiếp thực hiện. Chỉ kê biên những tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng khi vợ hoặc chồng là người bị cưỡng chế không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thi hành quyết định cưỡng chế, trong cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt hành chính bằng biện pháp kê biên tài sản thì cá nhân bị cưỡng chế có quyền đề nghị kê biên tài sản nào trước, tài sản nào sau. Như vậy, việc kê biên tài sản chỉ được thực hiện bởi chủ thể có thẩm quyền, người áp dụng biện pháp kê biên tài sản không có quyền tự kê biên mà chỉ có quyền đề nghị kê biên loại tài sản nào trước.

4. Lập biên bản xử phạt hành chính khi phát hiện 2 hành vi vi phạm trong hai thời điểm khác nhau

Một người có hành vi phá rừng tại 2 vị trí khác nhau (hai vị trí đó cách nhau chỉ có 1 con đường chiều ngang khoảng 5m), cơ quan chức năng không phát hiện kịp thời mà chỉ phát hiện khi họ đang đốt và tỉa lúa nên tiến hành lập 1 biên bản VPHC về HV phá rừng trái pháp luật. Sau khi căn cứ thì vụ vi phạm này có dấu hiệu hình sự (không thuộc phạm vi xử lý của Nghị định xử phạt HC). Họ lập 1 biên bản như thế có đúng pháp luật không? Vụ vi phạm này có nên tách ra 2 biên bản để xử lý hành chính không?

Căn cứ theo quy định tại đoạn 3 điểm d khoản 1 Điều 3 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012:

Điều 3. Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính

1. Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:

.....

d) Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định.

Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần.

Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính đó.

Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm;

Trong trường hợp này, lúa không được coi là rừng nên không thể nói người này có hành vi phá rừng ở hai vị trí khác nhau. Người có thẩm quyền lập biên bản xử phạt hành chính sẽ lập hai biên bản xử phạt hành chính đối với hành vi phá hoại rừng theo quy định tại Nghị định số 35/2019/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp và biên bản thứ hai về việc hủy hoại tài sản của người khác vì người này thực hiện việc đốt, tỉa lúa. Nếu việc phá rừng có dấu hiệu của hình sự thì người này sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 242 Bộ luật hình sự 2015 sữa đổi bỏ sung năm 2017.

Điều 243. Tội hủy hoại rừng

1. Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Cây trồng chưa thành rng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích từ 30.000 mét vuông (m2) đến dưới 50.000 mét vuông (m2);

b) Rng sản xuất có diện tích từ 5.000 mét vuông (m2) đến dưới 10.000 mét vuông (m2);

c) Rừng phòng hộ có diện tích từ 3.000 mét vuông (m2) đến dưới 7.000 mét vuông (m2);

d) Rừng đặc dụng có diện tích từ 1.000 mét vuông (m2) đến dưới 3.000 mét vuông (m2);

đ) Gây thiệt hại về lâm sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng trong trường hợp rng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích;

e) Thực vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA trị giá từ 20.000.000 đồng đến dưới 60.000.000 đồng; thực vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá từ 40.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;

g) Diện tích rừng hoặc trị giá lâm sản dưới mức quy định tại một trong các điểm a, b, c, d, đ và e khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

5. Tư vấn xử phạt về hành vi phá rừng trái phép

Ông A thuê ông B đưa xe cơ giới vào rừng trồng phòng hộ đào bới, san ủi để mở đường đi (giữa ông A và ông B có làm hợp đồng) và ghi rõ nếu liên quan đến pháp luật thì ông A phải chịu mọi trách nhiệm trước pháp luật (vì ông B không biết khu vực này là rừng phòng hộ do Nhà nước quản lý mà chỉ biết ông A nói là rừng của gia đình ông A nên đi làm). Khi cơ quan chức năng phát hiện lập biên bản và đề nghị xử lý cả 2 ông như thế có đúng PL không?

Hành vi của ông A sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 20 Nghị định 35/2019/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp:

Điều 20. Phá rừng trái pháp luật

Hành vi chặt, đốt, phá cây rừng, đào, bới, san ủi, nổ mìn; đắp đập, ngăn dòng chảy tự nhiên, xả chất độc hoặc các hành vi khác gây thiệt hại đến rừng với bất kỳ mục đích gì (trừ hành vi quy định tại Điều 13 của Nghị định này) mà không được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bị xử phạt như sau:

1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp sau:

a) Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh chưa có trữ lượng thuộc các loại rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng có diện tích dưới 3.000 m2;

b) Rừng sản xuất có diện tích dưới 500 m2;

c) Rừng phòng hộ có diện tích dưới 300 m2;

d) Rừng đặc dụng có diện tích dưới 100 m2;

đ) Thực vật rừng thông thường trị giá dưới 5.000.000 đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá dưới 4.000.000 đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA trị giá dưới 3.000.000 đồng trong trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích.

2. Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp sau:

a) Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh chưa có trữ lượng thuộc các loại rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng có diện tích từ 3.000 m2 đến dưới 6.000 m2;

b) Rừng sản xuất có diện tích từ 500 m2 đến dưới 1.000 m2;

c) Rừng phòng hộ có diện tích từ 300 m2 đến dưới 600 m2;

d) Rừng đặc dụng có diện tích từ 100 m2 đến dưới 200 m2;

đ) Thực vật rừng thông thường trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 7.000.000 đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA trị giá từ 3.000.000 đồng đến dưới 5.000.000 đồng trong trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích.

3. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp sau:

a) Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh chưa có trữ lượng thuộc các loại rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng có diện tích từ 6.000 m2 đến dưới 9.000 m2;

b) Rừng sản xuất có diện tích từ 1.000 m2 đến dưới 1.500 m2;

c) Rừng phòng hộ có diện tích từ 600 m2 đến dưới 900 m2;

d) Rừng đặc dụng có diện tích từ 200 m2 đến dưới 300 m2;

đ) Thực vật rừng thông thường trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá từ 7.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 7.000.000 đồng trong trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích.

4. Phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp sau:

a) Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh chưa có trữ lượng thuộc các loại rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng có diện tích từ 9.000 m2 đến dưới 12.000 m2;

b) Rừng sản xuất có diện tích từ 1.500 m2 đến dưới 2.000 m2;

c) Rừng phòng hộ có diện tích từ 900 m2 đến dưới 1.200 m2;

d) Rừng đặc dụng có diện tích từ trên 300 m2 đến dưới 400 m2;

đ) Thực vật rừng thông thường trị giá từ 20.000.000 đồng đến dưới 30.000.000 đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA trị giá từ 7.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng trong trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích.

5. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp sau:

a) Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh chưa có trữ lượng thuộc các loại rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng có diện tích từ 12.000 m2 đến dưới 15.000 m2;

b) Rừng sản xuất có diện tích từ 2.000 m2 đến dưới 2.500 m2;

c) Rừng phòng hộ có diện tích từ 1.200 m2 đến dưới 1.500 m2;

d) Rừng đặc dụng có diện tích từ 400 m2 đến dưới 500 m2;

đ) Thực vật rừng thông thường trị giá từ 30.000.000 đồng đến dưới 40.000.000 đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá từ 20.000.000 đồng đến dưới 30.000.000 đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 15.000.000 đồng trong trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích.

6. Phạt tiền từ 75.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp sau:

a) Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh chưa có trữ lượng thuộc các loại rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng có diện tích từ 15.000 m2 đến dưới 18.000 m2;

b) Rừng sản xuất có diện tích từ 2.500 m2 đến dưới 3.000 m2;

c) Rừng phòng hộ có diện tích từ 1.500 m2 đến dưới 1.800 m2;

d) Rừng đặc dụng có diện tích t 500 m2 đến dưới 600 m2;

đ) Thực vật rừng thông thường trị giá từ 40.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; thực vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá từ 30.000.000 đồng đến dưới 40.000.000 đồng; thực vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA trị giá từ 15.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng trong trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích.

7. Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 125.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp sau:

a) Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh chưa có trữ lượng thuộc các loại rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng có diện tích tứ 18.000 m2 đến dưới 21.000 m2;

b) Rừng sản xuất có diện tích từ 3.000 m2 đến dưới 3.500 m2;

c) Rừng phòng hộ có diện tích từ 1.800 m2 đến dưới 2.100 m2;

d) Rừng đặc dụng có diện tích từ 600 m2 đến dưới 700 m2.

8. Phạt tiền từ 125.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp sau:

a) Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh chưa có trữ lượng thuộc các loại rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng có diện tích từ 21.000 m2 đến dưới 24.000 m2;

b) Rừng sản xuất có diện tích từ 3.500 m2 đến dưới 4.000 m2;

c) Rừng phòng hộ có diện tích từ 2.100 m2 đến dưới 2.400 m2;

d) Rừng đặc dụng có diện tích từ 700 m2 đến dưới 800 m2.

9. Phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 175.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp sau:

a) Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh chưa có trữ lượng thuộc các loại rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng có diện tích từ 24.000 m2 đến dưới 27.000 m2;

b) Rừng sản xuất có diện tích từ 4.000 m2 đến dưới 4.500 m2;

c) Rừng phòng hộ có diện tích từ 2.400 m2 đến dưới 2.700 m2;

d) Rừng đặc dụng có diện tích từ 800 m2 đến dưới 900 m2.

10. Phạt tiền từ 175.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp sau:

a) Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh chưa có trữ lượng thuộc các loại rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng có diện tích từ 27.000 m2 đến dưới 30.000 m2;

b) Rừng sản xuất có diện tích từ 4.500 m2 đến dưới 5.000 m2;

c) Rừng phòng hộ có diện tích từ 2.700 m2 đến dưới 3.000 m2;

d) Rừng đặc dụng có diện tích từ 900 m2 đến dưới 1.000 m2.

11. Hành vi bóc vỏ, ken cây, khoan vào thân cây, băm gốc, đổ hóa chất hủy hoại gốc, rễ cây rừng làm ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng, phát triển cây rừng thì mỗi cây thân gỗ có đường kính tại vị trí 1,3 m trên 8 cm bị xâm hại xử phạt 100.000 đồng, nhưng không quá 200.000.000 đồng.

12. Chủ rừng được nhà nước giao rừng, cho thuê rừng để quản lý, bảo vệ và sử dụng vào mục đích kinh doanh theo quy định của pháp luật, nếu không thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng theo Quy chế quản lý rừng, không tổ chức kiểm tra phát hiện kịp thời vi phạm để phá rừng trái pháp luật bị xử phạt như quy định tại điểm b khoản 1 hoặc điểm b khoản 2 hoặc điểm b khoản 3 hoặc điểm b khoản 4 hoặc điểm b khoản 5 hoặc điểm b khoản 6 hoặc điểm b khoản 7 hoặc điểm b khoản 8 hoặc điểm b khoản 9 hoặc điểm b khoản 10 Điều này.

Nếu ông B chứng minh được mình chỉ là người làm thuê cho ông A và không hề biết đây là khu rừng phòng hộ thuộc sự quản lý của nhà nước thì B không phải thi hành quyết định xử phạt hành chính.

Trên đây là nội dung tư vấn chủa chúng tôi dành cho quý khách hàng. Ý kiến tư vấn dựa trên những quy định của pháp luật và những thông tin mà quý khách hàng cung cấp. mục đích đưa ra sự tư vấn là để cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Mr. Lưu Tý - Chuyên viên pháp lý phòng Hỗ trợ khách hàng - Công ty Luật TNHH Minh Khuê