Thưa luật sư, hiện tại em đang là sinh viên năm 2 khoa Luật trường đại học Công đoàn. Em có thắc mắc liên quan đến luật hình sự mong được luật sư giải đáp. Xin luật sư cho biết khái niệm "nhiều tội phạm" được hiểu như thế nào? Rất mong nhận được giải đáp của luật sư. Em chân thành cảm ơn! (Hồng Huế - Hà Nội)
>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900 6162
Trả lời:
Cơ sở pháp lý căn cứ quy định của Bộ luật hình sự năm 1985, Bộ luật hình sự năm 1999 trước đây và Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 hiện nay có thể phân tích như sau:
1. Vì sao cần xây dựng khái niệm nhiều tội phạm?
Trong thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử, có không ít trường hợp, một người thực hiện hai tội phạm trở lên và người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự cùng một lúc về các tội phạm ấy hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự vào những thời gian khác nhau sau khi bị kết án về hành vi phạm tội trước đó.
Trường hợp một người thực hiện hai tội phạm trở lên có tính nguy hiểm cao cho xã hội. Tính nguy hiểm cao cho xã hội của trường hợp này thể hiện ở chỗ trong những điều kiện giống nhau, trường hợp thực hiện nhiều tội phạm xâm hại đến nhiều nhóm quan hệ xã hội hoặc nhiều lần xâm hại đến một nhóm quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và thông thường gây ra những hậu quả nghiêm trọng hơn so vối trường hợp phạm một tội. Và điều đó cũng thể hiện khuynh hướng chông đối xã hội và tính nguy hiểm cao cho xã hội của người phạm tội. Tất cả những điều nói trên đều được các nhà làm luật tính đến khi xây dựng pháp luật hình sự và được các cơ quan bảo vệ pháp luật cân nhắc khi áp dụng các quy định của pháp luật hình sự.
Việc một người thực hiện hai tội phạm trở lên tạo thành một tình huống đặc biệt liên quan tới việc định tội danh các hành vi phạm tội; việc quyết định hình phạt và cá thể hoá trách nhiệm hình sự đốì vối người phạm tội; việc phân biệt trường hợp thực hiện một tội phạm với trường hợp thực hiện nhiều tội phạm...
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, nhiều tội phạm chưa được quan tâm, đề cập đúng mức trong nghiên cứu lý luận cũng như trong sách, báo và các tạp chí pháp lý. Pháp luật hình sự hiện hành của nước ta không tách trường hợp nhiều tội phạm thành một chế định pháp lý hình sự riêng biệt. Trong các Bộ luật hình sự năm 1985, 1999, 2015 cũng chưa chính thức ghi nhận định nghĩa pháp lý về khái niệm nhiều tội phạm. Mặc dù, trong Bộ luật hình sự năm 2015 có một loạt các quy phạm mà ở các mức độ khác nhau có liên quan đến các hình thức biểu hiện của trường hợp nhiều tội phạm, như: Điều 53 Tái phạm, tái phạm nguy hiểm; Điều 55 Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội; Điều 56 Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án v.v... Trường hợp nhiều tội phạm cần được tách thành một chế định pháp lý độc lập trong luật hình sự, bởi vì nhiều tội phạm có những dấu hiệu đặc trưng riêng và được điều chỉnh bỏi những quy phạm riêng.
2. Các dấu hiệu nhận định nhiều tội phạm
Các dấu hiệu đó là:
Thứ nhất, cần phải có hành vi nguy hiểm cho xã hội và hành vi đó thỏa mãn ít nhất các dấu hiệu của hai cấu thành tội phạm độc lập.
Thứ hai, đối vối từng hành vi nguy hiểm cho xã hội, nảy sinh những hậu quả pháp lý nhất định từ việc thực hiện hành vi đó. Sự nảy sinh những hậu quả pháp lý như vậy sẽ làm cơ sở để cân nhắc chúng khi định tội danh và quyết định hình phạt.
3. Pháp luật hình sự một số nước về nhiều tội phạm
Qua nghiên cứu luật hình sự của một số nước trên thế giới như Trung Quốc, Nhật Bản, Vương quốc Thụy Điển, Vương quốc Bỉ, Cộng hòa liên bang Đức... cho thấy, luật hình sự của các nước đó cũng không có quy phạm định nghĩa về khái niệm nhiều tội phạm. Trong khoa học luật hình sự Liên Xô (trước đây) và Liên bang Nga hiện nay, một số nhà luật học đã đưa ra những dấu hiệu của nhiều tội phạm. Tuy nhiên, các dấu hiệu này mới chỉ được trình bày dưới dạng những quan điểm và còn rất khác nhau, chưa đạt được một sự thông nhất chung. Những quan điểm đó là:
a) Những trường hợp một người thực hiện hai tội phạm trở lên mà đối với các tội đó vẫn chưa được xoá án tích hoặc chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
b) Theo nhà hình sự học lu.Melnhikova thì nhiều tội phạm là một khái niệm pháp lý mà bản chất của nó được thể hiện ở chỗ một người phạm hai, ba hay nhiều tội phạm mà không kể là người có tội đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối vối các tội được thực hiện trước đây hay chưa;
c) Nhiều tội phạm bao gồm: phạm tội lặp lại, phạm nhiều tội và tái phạm (A.M Iakovlev);
d) Theo M.Efimov và E.Flôrôv thì nhiều tội phạm chỉ bao gồm phạm tội lặp lại và phạm nhiều tội;
đ) Nhiều tội phạm bao gồm phạm nhiều tội, phạm tội không phải một lần, phạm tội lặp lại và tái phạm (V.N.Kuđriavtxev);
e) Nhiều tội phạm là khái niệm bao gồm phạm tội lặp lại và phạm nhiều tội trừu tượng (V.P.Malkôv);
f) Theo B.A.Kurinôv, nhà hình sự học nổi tiếng của Liên Xô cho rằng nhiều tội phạm là một chế định của luật hình sự Liên Xô cần bao hàm tất cả những trường hợp khi một ngưòi thực hiện một số tội phạm trong điều kiện nếu như đối với các tội này người đó vẫn chưa hết án tích hoặc thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự vẫn chưa hết v.v...
Các nhà hình sự học của Cộng hòa nhân dân Mông Cổ cũng đưa ra ba dấu hiệu của khái niệm nhiều tội phạm như sau: Thứ nhất, trường hợp thực hiện từ hai tội phạm trở lên. Đây là dấu hiệu định lượng để phân biệt với các trường hợp không phải là nhiều tội phạm. Thứ hai, mỗi tội phạm trong số các tội phạm đã được thực hiện phải chịu hậu quả pháp lý hình sự. Thứ ba, sự lặp lại việc thực hiện hai tội phạm trở lên. Điều này có nghĩa, các tội phạm được thực hiện cách nhau một khoảng thời gian nhất định đủ để phân biệt tội phạm trưốc với tội phạm sau(1).
Từ các quan điểm trên, chúng ta thấy rằng, nếu chỉ coi dấu hiệu một người phạm từ hai tội phạm trở lên hay phạm một tội từ hai lần trở lên là dấu hiệu đặc trưng duy nhất của khái niệm nhiều tội phạm là chưa đầy đủ, bởi lẽ không phải bất cứ trường hợp thực hiện nhiều hành vi phạm tội đều bị coi là nhiều tội phạm. Chẳng hạn, người phạm tội mới sau khi được xóa án tích đối với tội đã phạm trước đó hoặc sau khi hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội đã phạm trước đây hoặc trường hợp khi có những trở ngại về mặt tố tụng để khởi tố vụ án hình sự (chẳng hạn, không có yêu cầu khởi kiện của người bị hại đối với các vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại).
Do đó, ngoài dấu hiệu người phạm tội thực hiện từ hai tội phạm trở lên hoặc phạm một tội từ hai lần trở lên, khái niệm nhiều tội phạm phải bao gồm cả dấu hiệu người thực hiện những tội phạm đó chưa được xóa án tích về các tội đã phạm, các tội đó chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và không có trở ngại về mặt tố tụng hình sự để khởi tố vụ án hình sự.
4. Ví dụ trường hợp nhiều tội phạm
Nói một cách khác, nhiều tội phạm là một khái niệm pháp lý hình sự tổng hợp, phản ánh việc một người thực hiện hai tội phạm trở lên và không phụ thuộc vào việc người phạm tội đã bị xét xử về các tội đó hay chưa, các tội này chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và không có trỏ ngại về mặt tố tụng hình sự để khỏi tố vụ án hình sự. Để làm sáng tỏ những nhận định trên, chúng ta có thể xem xét một sô' vụ án đã xảy ra trong thực tiễn xét xử:
Ví dụ 1: ngày 18-6-1996, Tòa án nhân dân huyện ĐT, tỉnh HT xử phạt Nguyễn Văn L bốn năm sáu tháng tù về tội “trộm cắp tài sản của công dân”. Trên đường dẫn bị cáo L về trại giam, L đã bỏ trốn vào thành phố Hồ Chí Minh sống lang thang và tiếp tục phạm tội. Cụ thể, L đã thực hiện một số vụ như sau: Vụ thứ nhất, khoảng tháng 1-1997, L cùng vợ thuê nhà của anh c để ở. Trong thời gian sống ở đây, L lấy tên giả là H và làm quen với các anh Kh, Ng và c. Tháng 4-1997, L nói dối để vay bốn triệu đồng của anh Kh, mượn đầu Video của anh Ng và mượn xe Hon đa Cup 78 của anh c sau đó cùng vợ thu dọn đồ đạc, bỏ trốn. L đã bán đầu video và xe máy để tiêu dùng cá nhân. Vụ thứ hai. L cùng vợ đến thuê nhà của anh NVH tại một địa điểm khác. Một buổi sáng, lợi dụng lúc chủ nhà còn đang ngủ, L lấy trộm một đầu máy video nhãn hiệu Sharp để tại phòng khách. Sau đó, y cùng vợ thu dọn đồ đạc và bỏ trốn. Trong ví dụ này, L đã thực hiện nhiều tội phạm: Tội trốn khỏi nơi giam, giữ (Điều 311, Bộ luật hình sự 1999), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139, Bộ luật hình sự 1999), Tội trộm cắp tài sản (Điều 138, Bộ luật hình sự 1999).
Ví dụ 2: Lê Văn M có hành vi đâm chết chị H để cướp chiếc xe máy của chị ấy. Đây là trường hợp một hành vi phạm tội cấu thành hai tội. Bởi vì, hành vi đâm (cố ý) cùng với ý định chiếm đoạt chiếc xe máy của chị H cấu thành tội cướp tài sản của công dân (Điều 133 Bộ luật hình sự 1999). Nhưng cấu thành này chưa thu hút hết những tình tiết có ý nghĩa về mặt pháp lý hình sự của hành vi phạm tội. Đó là tình tiết hậu quả chị H bị chết và lỗi cố ý đối với hậu quả đó của Lê Văn M. Cùng với những tình tiết này, hành vi của Lê Văn M đã cấu thành tội thứ hai - tội giết người (Điều 93 Bộ luật hình sự 1999).
Từ sự phân tích và qua xem xét các ví dụ trên, dưới góc độ khoa học luật hình sự, chúng ta có thể đưa ra khái niệm nhiều tội phạm như sau: nhiều tội phạm là trường hợp một người phạm từ hai tội trở lên, không phụ thuộc vào việc người đó đã bị xét xử về các tội đã phạm hay chưa; các tội này chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và không có những trở ngại về mặt tố tụng hình sự để khởi tố vụ án hình sự.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp. Xem thêm: Biểu hiện của nhiều tội phạm là gì? Sự khác nhau giữa nhiều tội phạm và tội đơn nhất phức tạp