1. Chuyển khoản từ 500 triệu đồng trở lên phải báo cáo giao dịch trong phòng chống rửa tiền

Nội dung trích từ Thông tư 09/2023/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ban hành vào ngày 28/7/2023, liên quan đến hướng dẫn thực hiện Luật Phòng, chống rửa tiền, tập trung vào việc quy định trách nhiệm và quy tắc báo cáo cho các tổ chức tài chính tham gia giao dịch chuyển tiền điện tử. Dưới đây là phân tích chi tiết nội dung này:

Thông tư này hướng dẫn thực hiện Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022, một phần quan trọng của quy trình đảm bảo tính chất tài chính và phòng ngừa hoạt động rửa tiền và tài trợ khủng bố. Quy định chung tại khoản 1 Điều 9 và khoản 3 Điều 9 của Thông tư đề cập đến việc quy định đối tượng báo cáo và thu thập thông tin. Các báo cáo phải được thực hiện bằng dữ liệu điện tử theo quy định tại khoản 1 Điều 10.

Trách nhiệm báo cáo:

Đối tượng báo cáo có trách nhiệm thu thập thông tin và báo cáo Cơ quan thực hiện chức năng, nhiệm vụ phòng, chống rửa tiền. Trách nhiệm này áp dụng khi thực hiện giao dịch chuyển tiền điện tử trong các trường hợp sau đây:

- Giao dịch chuyển tiền điện tử trong nước: Giao dịch có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên hoặc bằng ngoại tệ có giá trị tương đương.

- Giao dịch chuyển tiền điện tử quốc tế: Giao dịch có giá trị từ 1.000 đô la Mỹ trở lên hoặc bằng ngoại tệ khác có giá trị tương đương. Các tổ chức tài chính tham gia giao dịch chuyển tiền điện tử quốc tế bao gồm:

+ Tổ chức tài chính khởi tạo: tổ chức khởi tạo lệnh chuyển tiền điện tử và thực hiện chuyển tiền thay mặt cho người khởi tạo.

+ Tổ chức tài chính trung gian: tổ chức nhận và chuyển lệnh chuyển tiền điện tử thay mặt cho tổ chức tài chính khởi tạo và tổ chức tài chính thụ hưởng hoặc thay mặt cho tổ chức tài chính trung gian khác.

+ Tổ chức tài chính thụ hưởng: tổ chức nhận lệnh chuyển tiền điện tử trực tiếp từ tổ chức tài chính khởi tạo hoặc thông qua tổ chức tài chính trung gian và thực hiện chi trả cho người thụ hưởng.

Quy định này có mục tiêu tạo ra quy tắc rõ ràng để đảm bảo rằng các giao dịch chuyển tiền điện tử trong nước và quốc tế được theo dõi, kiểm tra và báo cáo một cách hiệu quả để ngăn chặn hoạt động rửa tiền và tài trợ khủng bố.

Ngoài ra, theo khoản 2 Điều 9 của Thông tư 09/2023/TT-NHNN, quy định rõ rằng trường hợp đối tượng báo cáo là tổ chức tài chính trung gian trong giao dịch chuyển tiền điện tử không phải thực hiện báo cáo theo quy định tại mục này. Điều này có nghĩa rằng tổ chức tài chính trung gian không phải chịu trách nhiệm thu thập thông tin và báo cáo giao dịch chuyển tiền điện tử theo các quy tắc được nêu trong văn bản pháp luật liên quan.

2. Khi báo cáo giao dịch chuyển tiền điện tử tối thiểu thì nội dung là gì?

Theo khoản 3 Điều 9 của Thông tư 09/2023/TT-NHNN, nội dung báo cáo giao dịch chuyển tiền điện tử tối thiểu bao gồm các thông tin sau:

Thông tin về tổ chức tài chính khởi tạo và thụ hưởng:

- Tên giao dịch của tổ chức hoặc chi nhánh giao dịch: Tên chính thức hoặc tên viết tắt của tổ chức tài chính hoặc chi nhánh giao dịch tham gia giao dịch.

- Địa chỉ trụ sở chính (hoặc mã ngân hàng đối với giao dịch chuyển tiền điện tử trong nước, mã SWIFT đối với chuyển tiền điện tử quốc tế): Địa chỉ vị trí trụ sở chính của tổ chức tài chính hoặc mã ngân hàng (trong trường hợp giao dịch trong nước) hoặc mã SWIFT (dùng cho giao dịch quốc tế).

- Quốc gia nhận và chuyển tiền: Thông tin về quốc gia nhận tiền và quốc gia chuyển tiền trong giao dịch.

Thông tin về khách hàng là cá nhân tham gia giao dịch chuyển tiền điện tử:

- Họ và tên: Tên đầy đủ của cá nhân tham gia giao dịch.

- Ngày, tháng, năm sinh: Thông tin về ngày, tháng, và năm sinh của cá nhân.

- Số Chứng minh nhân dân hoặc số Căn cước công dân hoặc số định danh cá nhân hoặc số hộ chiếu: Các số và giấy tờ cá nhân có liên quan.

- Số thị thực nhập cảnh (nếu có): Thông tin về số thị thực nếu cá nhân có.

- Địa chỉ đăng ký thường trú hoặc nơi ở hiện tại khác (nếu có): Địa chỉ đăng ký thường trú hoặc thông tin về nơi ở hiện tại (nếu nơi ở khác với địa chỉ đăng ký).

- Quốc tịch (theo chứng từ giao dịch): Quốc tịch của cá nhân dựa trên các chứng từ giao dịch.

Thông tin về khách hàng là tổ chức tham gia giao dịch chuyển tiền điện tử tối thiểu bao gồm các thông tin sau:

- Tên giao dịch đầy đủ và viết tắt (nếu có): Tên chính thức và tên viết tắt của tổ chức tham gia giao dịch chuyển tiền điện tử.

- Địa chỉ trụ sở chính: Địa chỉ vị trí trụ sở chính của tổ chức tham gia giao dịch.

- Số giấy phép thành lập hoặc mã số doanh nghiệp hoặc mã số thuế: Số giấy phép hoặc mã số định danh pháp lý của tổ chức.

- Quốc gia nơi đặt trụ sở chính: Thông tin về quốc gia nơi mà trụ sở chính của tổ chức đặt tại.

Thông tin về giao dịch:

- Số tài khoản (nếu có): Số tài khoản liên quan đến giao dịch (nếu có).

- Số tiền: Số tiền giao dịch trong ngoại tệ tương ứng (nếu loại tiền giao dịch là ngoại tệ).

- Loại tiền: Loại tiền giao dịch (có thể là tiền địa phương hoặc ngoại tệ).

- Số tiền được quy đổi sang đồng Việt Nam (nếu loại tiền giao dịch là ngoại tệ): Số tiền quy đổi sang đồng Việt Nam dựa trên tỷ giá hối đoái.

- Lý do, mục đích giao dịch: Mô tả lý do và mục đích cụ thể của giao dịch. Mã giao dịch: Mã số hoặc mã giao dịch cụ thể liên quan đến giao dịch.

- Ngày giao dịch: Ngày thực hiện giao dịch.

Thông tin khác theo yêu cầu của Cơ quan thực hiện chức năng, nhiệm vụ phòng, chống rửa tiền để phục vụ công tác quản lý nhà nước về phòng, chống rửa tiền trong từng thời kỳ:

Bất kỳ thông tin bổ sung nào được yêu cầu bởi Cơ quan thực hiện chức năng, nhiệm vụ phòng, chống rửa tiền để đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ các quy định về phòng chống rửa tiền và tài trợ khủng bố.

Những thông tin này đóng vai trò quan trọng trong quy trình theo dõi và kiểm tra các giao dịch chuyển tiền điện tử để đảm bảo tính minh bạch và phòng ngừa hoạt động rửa tiền và tài trợ khủng bố.

Tuy nhiên, cần lưu ý, tại khoản 4 Điều 9 Thông tư 09/2023/TT-NHNN, quy định rõ rằng một số thông tin cá nhân như ngày, tháng, năm sinh, số Chứng minh nhân dân hoặc số Căn cước công dân hoặc số định danh cá nhân hoặc số Hộ chiếu, số thị thực nhập cảnh (nếu có); số giấy phép thành lập hoặc mã số doanh nghiệp hoặc mã số thuế không bắt buộc được yêu cầu trong các trường hợp sau:

- Người thụ hưởng trong giao dịch chuyển tiền điện từ quốc tế từ Việt Nam ra nước ngoài: Điều này có nghĩa rằng người nhận tiền ở nước ngoài không cần phải cung cấp các thông tin cá nhân chi tiết như ngày, tháng, năm sinh, số CMND hoặc số Căn cước công dân, và các thông tin tương tự.

- Người khởi tạo trong giao dịch chuyển tiền điện tử quốc tế từ nước ngoài về Việt Nam: Tương tự, người gửi tiền từ nước ngoài vào Việt Nam cũng không bắt buộc cung cấp các thông tin cá nhân chi tiết như ngày, tháng, năm sinh, số CMND hoặc số Căn cước công dân, và các thông tin tương tự.

Lý do cho việc không yêu cầu các thông tin cá nhân chi tiết trong những tình huống này có thể liên quan đến việc giảm bớt thủ tục và sự phiền toái cho người tham gia trong các giao dịch quốc tế và đồng thời cũng có thể do một số quy định liên quan đến quyền riêng tư của người dùng. Tuy nhiên, mọi giao dịch vẫn cần tuân theo các quy định phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố, và các thông tin quan trọng khác vẫn phải được theo dõi và báo cáo theo quy định.

3. Những giao dịch chuyển tiền điện tử không phải báo cáo

Theo Điều 9 của Thông tư 09/2023/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, giao dịch chuyển tiền điện tử không phải báo cáo bao gồm các trường hợp sau đây:

- Giao dịch chuyển tiền bắt nguồn từ giao dịch sử dụng thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng hoặc thẻ trả trước để thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ: Điều này có nghĩa là các giao dịch chuyển tiền mà nguồn tiền được lấy từ việc sử dụng các loại thẻ ngân hàng như thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, hoặc thẻ trả trước để thanh toán tiền mua sắm hoặc tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ. Những giao dịch này không cần phải báo cáo riêng biệt theo Thông tư.

- Giao dịch chuyển tiền và thanh toán giữa các tổ chức tài chính mà người khởi tạo và người thụ hưởng đều là các tổ chức tài chính: Điều này đề cập đến các giao dịch chuyển tiền hoặc thanh toán xảy ra giữa các tổ chức tài chính như ngân hàng, công ty chứng khoán, hay các tổ chức tài chính khác. Trong trường hợp cả người gửi và người nhận đều là các tổ chức tài chính, không cần phải thực hiện báo cáo bổ sung về giao dịch này.

Những loại giao dịch này được miễn khỏi yêu cầu báo cáo trong Thông tư 09/2023/TT-NHNN để đảm bảo tính linh hoạt và hiệu quả trong quản lý giao dịch chuyển tiền điện tử và giảm bớt gánh nặng thủ tục cho các trường hợp cụ thể như đã nêu.

Xem thêm: Tổng hợp các văn bản về phòng, chống rửa tiền