CƠ SỞ PHÁP LÝ
Bản tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776
Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787
Hiến pháp nước Cộng hòa Ba Lan 1997
Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993
Hiến pháp Italia 1947
Hiến pháp Nhật Bản 1946
hiến pháp cộng hòa Xéc năm 1992
Đạo luật Liên bang Áo năm 1970
NỘI DUNG TƯ VẤN
1. Cách thức thành lập và cơ cấu tổ chức của Nghị viện (Federal assembly)
Theo quy định tại Điều 94, Quốc hội Liên bang - Nghị viện Liên bang là cơ quan đại diện cao nhất và là cơ quan lập pháp của Liên bang. Nghị viện Liên bang Nga là cơ quan hoạt động thường xuyên.
Nghị viện Liên bang bao gổm 2 Viện: Thượng viện gọi là Hội đổng Liên bang (Federation Council) và Hạ viện gọi là Duma quốc gia (State Duma).
Thượng viện Nga đại diện cho các chủ thể của Liên bang Nga, mỗi chủ thể của Liên bang (các nước cộng hoà, các lãnh thổ, các lãnh thổ tự trị, các thành phố liên bang, các vùng, các vùng tự trị, khu vực tự trị) không phụ thuộc vào lớn hay nhỏ về diện tích và dân số đều có hai đại diện vào Thượng viện. Tổng số các chủ thể của Liên bang Nga là 89 vì vậy số lượng đại biểu Thượng viện Nga là 178. Theo quy định của Khoản 2 Điều 95 Hiến pháp năm 1993 mỗi chủ thể của Liên bang có hai đại biểu trong Thượng viện của Liên bang. Hai đại biểu này do cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp của các chủ thể Liên bang bổ nhiệm.
Duma quốc gia gồm 450 đại biểu, được bầu với nhiệm kỳ 4 năm theo nguyên tắc bầu cử tự do, phổ thông, trực tiếp, bỏ phiếu kín. Trong Hạ viện Nga có 1/2 số đại biểu được bầu theo danh sách của các đảng phái, 1/2 số đại biểu được bầu trực tiếp ở các khu vực bầu cử.
Duma Quốc gia xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1906 và đến Cách mạng Tháng Mười năm 1917 thì bị bãi bỏ, thay vào đó là Xô viết tối cao của nước Nga. Sau khi chế độ Xô viết sụp đổ Duma quốc gia được tái thiết lập.
Điều kiện để trở thành ứng cử viên đại biểu Hạ viện là công dân Nga từ 21 tuổi trở lên và có quyền bầu cử. Đại biểu Hạ viện không thể đổng thời là đại biểu Thượng viện, và cũng không thể đổng thời là đại biểu của bất kỳ một cơ quan đại diện nào hoặc thành viên của Chính quyền địa phương tự quản. Đại biểu Hạ viện là nghị sĩ chuyên nghiệp (shall work on a permanent professional basis), không thể đổng thời làm việc cho bất kỳ một cơ quan công vụ nào hoặc tham gia vào bất kỳ hoạt động gì có trả lương ngoài hoạt động nghiên cứu, giảng dạy và hoạt động sáng tạo. Nghị sĩ Hạ viện và Thượng viện Nga có quyền miễn trừ (immunity) trong suốt thời gian nhậm chức. Nghị sĩ của cả hai viện đều có quyền không bị bắt, bị giam giữ, bị khám xét trừ trường hợp phạm pháp quả tang. Nghị sĩ cũng không thể bị truy nã trừ trường hợp việc truy nã đó được luật cho phép để đảm bảo an toàn cho người khác. Việc tước quyền miễn trừ của nghị sĩ viện nào do viện đó quyết định và chỉ có thể được quyết định trên cơ sở đề nghị của Viện trưởng Viện công tố Liên bang Nga.
Sau 30 ngày kể từ ngày bầu cử, Hạ viện Nga họp phiên đầu tiên, tuy nhiên Tổng thống có thể triệu tập phiên họp đầu tiên của Hạ viện trước ngày đó. Phiên họp đầu tiên của Hạ viện nhiệm kỳ mới do đại biểu lớn tuổi nhất khai mạc. Hạ viện và Thượng viện Nga họp riêng, các phiên họp đều tổ chức công khai, tuy nhiên hai viện đều có quyền họp kín trong những trường hợp mà luật tổ chức nghị viện Nga quy định. Hai viện của Nghị viện cũng có những phiên họp chung để nghe diễn thuyết của Tổng thống hoặc diễn thuyết của Toà án Hiến pháp hoặc để tiếp đón các nhà lãnh đạo nước ngoài đến thăm viếng và phát biểu.
Thượng viện và Hạ viện bầu ra Chủ tịch và các Phó chủ tịch của mỗi viện. Chủ tịch và các Phó chủ tịch của mỗi viện điều khiển các phiên họp và kiểm tra việc thực hiện quy chế hoạt động của các nghị sĩ. Thượng viện và Hạ viện đều thành lập các Uỷ ban chuyên môn và Hội đồng chuyên môn. Mỗi viện xây dựng quy chế hoạt động và tổ chức nội bộ của viện mình. Để kiểm tra giám sát chi tiêu ngân sách Liên bang mỗi viện đều thành lập cơ quan kiểm toán (Accounting Chamber) của viện mình. Biên chế và cách thức hoạt động của kiểm toán nghị viện được thực hiện theo quy định của luật liên bang.
2. Thẩm quyền của Nghị viện
2.1 Thẩm quyền của Thượng viện
Thẩm quyền của Thượng viện bao gồm:
- Thực hiện quyền lập pháp theo quy định của Hiến pháp và luật;
- Phê chuẩn sự thay đổi ranh giới lãnh thổ giữa các chủ thể Liên bang;
- Phê chuẩn các sắc lệnh của Tổng thống Liên bang về thiết lập tình trạng khẩncấp hoặc Lệnh giới nghiêm;
- Phê chuẩn các sắc lệnh của Tổng thống Nga;
- Quyết định về khả năng sử dụng các lực lượng quốc phòng Nga ngoài lãnh thổ Liên bang Nga;
- Quyết định về việc tổ chức bầu cử Tổng thống Nga theo quy định của luật;
- Xét xử theo thủ tục đàn hạch (impeachment) Tổng thống Nga khi Tổng thống bị Hạ viện buộc tội;
- Bổ nhiệm các thẩm phán của Toà án Hiến pháp Liên bang, Tòa án tối cao Liên bang và Toà án trọng tài tối cao Liên bang;
- Bổ nhiệm và miễn nhiệm Viện trưởng viện công tố Liên bang;
- Bổ nhiệm và miễn nhiệm Phó Chủ tịch và một nửa số thành viên của Uỷ ban kiểm toán của Nghị viện;
- Thượng viện ra các Nghị quyết về các vấn đề thuộc thẩm quyền của Thượng viện theo quy định của Hiến pháp, các Nghị quyết được thông qua khi có đa số các nghị sĩ biểu quyết tán thành trừ các trường hợp mà Hiến pháp có quy định khác.
Qua những quy định trên đây của Hiến pháp chúng ta thấy thẩm quyền của Thượng viện Nga không lớn và chủ yếu liên quan đến lĩnh vực tư pháp. Các thẩm quyền này chủ yếu để kiềm chế và đối trọng với quyền lực của Tổng thống và quyền lực của các cơ quan tư pháp.
2.2 Thẩm quyền của Hạ viện
So với thẩm quyền của Thượng viện, Thẩm quyền cửa Hạ viện rộng hơn, bao gồm các lĩnh vực sau đây:
- Thực hiện quyền lập pháp theo quy định của Hiến pháp;
- Phê chuẩn hoặc không phê chuẩn ứng cử viên Thủ tướng mà Tổng thống lựa chọn để bổ nhiệm;
- Quyết định tín nhiệm hay không tín nhiệm Chính phủ mà Tổng thống và Thủ tướng đã lựa chọn;
- Bổ nhiệm và miễn nhiệm Thống đốc ngân hàng trung ương của Liên bang Nga;
- Bổ nhiệm và miễn nhiệm Chủ tịch và một nửa số thành viên của Ưỷ ban kiểm toán của Nghị viện;
- Bổ nhiệm, miễn nhiệm Cao uỷ viên về quyền con người hoạt động theo quy định của đạo luật hiến pháp Liên bang;
- Quyết định đại xá;
- Buộc tội Tổng thống theo thủ tục đàn hạch;
- Hạ viện ban hành các Nghị quyết (Resolution) về các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hạ viện theo quy định của Hiến pháp và luật; Các nghị quyết của hạ viện được thông qua bởi đa số phiếu thuận, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Hiến pháp.
2.3 Sáng kiến lập pháp
Theo quy định của Điều 104 sáng kiến lập pháp thuộc các chủ thể pháp luật sau đây:
- Tổng thống cộng hoà Liên bang Nga;
- Thượng viện cộng hoà Liên bang Nga;
- Các thành viên của Thượng viện;
- Các thành viên của Hạ viện;
- Chính phủ cộng hoà Liên bang Nga;
- Các cơ quan lập pháp của các chủ thể cộng hoà Liên bang Nga;
- Toà án Hiến pháp Liên bang;
- Toà án tối cao Liên bang;
- Toà án trọng tài tối cao Liên bang.
2.4 Thủ tục thông qua các dự luật
Theo quy định của Khoản 2 Điều 104 dự thảo luật trước hết chuyển đến Hạ viện. Các dự luật về thiết lập, bãi bỏ hoặc miễn trừ các thứ thuế, các dự luật liên quan đến tiền vay của nhà nước, liên quan đến sự thay đổi nghĩa vụ tài chính của nhà nước hoặc các dự luật về chi tiêu ngân sách nhà nước chỉ có thể chuyển đến Hạ viện sau khi có nghị quyết của Chính phủ Liên bang về vấn đề này.
Các dự luật trước tiên được thảo luận và thông qua bằng đa số phiếu thuận’ tại Hạ viện, sau đó trong vòng 5 ngày dự luật sẽ được chuyển đến Thượng viện để xem xét. Dự luật được thông qua nếu được đa số Thượng nghị sĩ bỏ phiếu thuận. Dự luật coi như được thông qua nếu sau 14 ngày mà Thượng viện im lặng. Trường hợp Thượng viện bác bỏ dự luật đã chuyển đến, hai viện có thể thành lập một Uỷ ban hỗn hợp bao gồm đại diện của hai viện với thành phần các bên như nhau để giải quyết các vấn đề còn bất đồng. Nếu uỷ ban vẫn không giải quyết được những bất đồng của hai bên thì Hạ viện sẽ bỏ phiếu chung quyết. Dự luật được thông qua nếu trong lần bỏ phiếu thứ hai có đủ ít nhất 2/3 số đại biểu Hạ viện bỏ phiếu thuận.
Một số luật do Hạ viện thông qua trên nguyên tắc uỷ quyền cũng coi như đã được Thượng viện thông qua nếu luật liên quan đến các vấn đề:
- Ngân sách Liên bang;
- Thuế hoặc các khoản thu khác của Liên bang;
- Điều chỉnh tài chính, tiền tệ, tín dụng, thuế quan và phát hành tiền;
- Phê chuẩn hoặc huỷ bỏ các điều ước quốc tế của Liên bang Nga;
- Các quy chế bảo vệ biên giới nước Nga;
- Chiến tranh và hoà bình.
Một dự luật sau khi được hai viện của Nghị viện thông qua trong vòng 5 ngày phải chuyển đến cho Tổng thống phê chuẩn (ký vào dự luật) và công bố. Trong vòng 14 ngày kể từ khi nhận được dự luật Tổng thống sẽ xem xét, ký và công bố luật. Nếu trong thời gian đó Tổng thống bác bỏ dự luật thì hai viện sẽ xem xét lại dự luật. Nếu trong lần thảo luận và bỏ phiếu lại lần thứ hai số phiếu thuận của cả hai viện đạt từ 2/3 trở lên số phiếu thuận thì Tổng thống buộc phải ký và công bố luật trong vòng 7 ngày.
Đốị với các luật hiến pháp Liên bang (Federal Constitutional law) nghĩa là các luật sửa đổi Hiến pháp thì luật chỉ có thể thông qua khi đủ từ 3/4 trở lên sô phiếu thuận của các đại biểu Thượng viện (Hội đồng Liên bang) và từ 2/3 trở lên số phiếu thuận của Hạ viện (Duma quốc gia). Các dự luật này phải được Tổng thống ký và công bố trong vòng 14 ngày.
2.5 Việc bổ sung, sửa đổi Hiến pháp
Tổng thống Cộng hoà Liến bang Nga, hội đổng Liên bang (Thượng Viện), Duma Quốc Gia (Hạ Viện), Chính phủ Liên bang Nga, các cơ quan lập pháp của các chủ thể của Liên bang Nga 1/5 trở lên tổng số đại biểu của Thượng Viện hoặc Hạ Viện có thể đề nghị bổ sung hoặc sửa đổi Hiến pháp.
Theo quy định tại Điều 135 Hiến pháp nãm 1993 các quy định tại Chương I, II và Chương IX (Những vấn đề cơ bản của hệ thống Hiến pháp; Các quyền, và tự do của con người và công dân; Bổ sung và sửa đổi Hiến pháp) là những quy định mà Nghị Viện không thể xem xét lại. Trong trường hợp có kiến nghị sửa đổi bất kỳ quy định nào trong Chương I, Chương II và Chương IX của Hiến pháp Liên bang cần có ít nhất 3/5 tổng số đại biểu của Thượng Viện và Hạ Viện đề nghị. Một Quốc hội lập hiến sẽ được triệu tập theo quy định của Luật Hiến pháp Liên bang.
Quốc hội lập hiến Cộng hoà Liên bang Nga có thể giữ nguyên Hiến pháp cũ cũng có thể xây dựng dự thảo Hiến pháp mới, và dự thảo Hiến pháp được thông qua nếu có từ 2/3 trở lên số đại biểu của Thượng Viên và Hạ Viện bỏ phiếu thuận.
Việc sửa đổi các chương từ Chương III đến Chương VIII (Liên bang Nga, Tổng thống Liên bang Nga, Quốc hội Liên bang (Nghị Viện), Tư pháp, Chính quyền địa phương tự quản) của Hiến pháp Liên bang Nga được thông qua theo thủ tục thông qua Luật Hiến pháp, và có hiệu lực khi được ít nhất 2/3 các chủ thể của Liên bang phê chuẩn.
Việc sửa đổi Điều 65 của Hiến pháp Liên bang Nga (Các chủ thể của Cộng hòa Liên bang Nga) liên quan đến việc xác định cơ cấu của Liên bang Nga sẽ được thực hiện trên cơ sở luật Hiến pháp Liên bang về việc tiếp nhận hoặc thành lập chủ thể mới của Liên bang hoặc về thay đổi thể chế Hiến pháp của các chủ thể Liên bang Nga. Trường họp thay đổi tên gọi của nước Cộng hoà, khu vực lãnh thổ, vùng, thành phố Liên bang, vùng tự trị, khu vực tự trị thì tên mới của chủ thể Liên bang Nga sẽ được đưa vào trong Điều 65 của Hiến pháp Liên bang.
Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!