1. Quan niệm về đại diện

Đại diện là một trong những chức năng của Nghị viện các nước. Đó là các hoạt động làm cho tiếng nói, ý kiến, quan điểm của người dân được “hiện diện” trong quy trình hoạch định các chính sách của quốc gia. Hoạt động đại diện được diễn ra khi các nghị sĩ thay mặt nhân dân phát biểu, vận động, biểu quyết trên các diễn đàn chính trị của đất nước. Chức năng đại diện đảm bảo rằng những mối quan tâm và các vấn đề của một cộng đồng được lắng nghe ở cấp quốc gia. Trên cương vị nghị sĩ, đại diện là việc phản ánh hay truyền đạt quan điểm, mong muốn của cử tri và thể hiện chúng ở cơ quan lập pháp, xác định những gì mang lại lợi ích tốt nhất cho cử tri và đất nước.

Nhân dân bầu ra những người đại diện cho mình và uỷ quyền cho họ thực hiện các công việc của chính quyền. Trong hình thức này, sự tham gia của người dân vào chính quyền không thường xuyên, chỉ chủ yếu tập trung vào các kì bầu cử. Quyền lực của người dân thể hiện ở việc họ lựa chọn những người đại diện thay mặt cho họ thực thi quyền lực nhà nước và có thể thay thế những người đại diện này ở kì bầu cử tiếp theo. Quyền lực của người dân không vì vậy mà mất đi. Sau khi uỷ quyền cho những người đại diện, bằng nhiều hình thức khác nhau, người dân vẫn có quyền tham gia ý kiến về các hoạt động của chính quyền cũng như giám sát quá trình thực hiện công việc của những người đại diện. Trong khi đó, bản thân những người đại diện cũng có trách nhiệm và có động lực để thường xuyên tham vấn ý kiến của người dân.

2. Làm hài lòng cử tri và bảo đảm lợi ích quốc gia

Làm nghị sĩ thực chất là làm cho cử tri hài lòng, đồng thời phải quan tâm, bảo đảm lợi ích tổng thể của quốc gia. Cân đối, hài hòa giữa hai dạng lợi ích này luôn là thách thức đối với nghị sĩ các nước. Chẳng hạn, việc tăng thuế đánh vào các sản phẩm nông nghiệp, nếu xét trên lợi ích của toàn quốc gia, có thể là một quyết định tốt. Thế nhưng, với những đại biểu đến từ các vùng địa phương có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp thì rõ ràng sức ép của các cử tri sẽ làm cho họ phải cân nhắc liệu có nên ủng hộ quyết định đó hay không. Như một Chủ nhiệm Uỷ ban của Hạ viện Mỹ từng nhận xét: “Dù anh làm hay không làm thì vẫn bị chỉ trích. Nếu anh làm đủ công việc ở Nghị viện thì anh bị than phiền là lơ là khu vực bầu cử của mình. Còn nếu dành quá nhiều thời gian cho khu vực bầu cử, anh sẽ bị buộc tội sao nhãng công việc ở Nghị viện”.

Làm hài lòng cử tri

Mặc dù luật không yêu cầu bắt buộc, nhưng ở nhiều nước, đáp ứng yêu cầu của cử tri ở địa phương nơi được bầu là quan tâm hàng đầu của các nghị sĩ. Như một nghị sĩ Anh có nói, “thành viên của Nghị viện thực chất là thành viên của khu vực bầu cử, có bổn phận hàng đầu là đại diện cho những mặc cả và lợi ích ở đó”(1). Còn một nghị sĩ Mỹ thì khẳng định: “mọi chính sách đều xuất phát từ địa phương”(2). Hơn nữa, nghề nghị sĩ ở các nước đó thường kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ, thậm chí có những bậc trưởng lão làm nghị sĩ đến cuối đời, cho nên để được bầu lại, muốn hay không họ đều phải “chiều lòng” cử tri. Thông qua cơ chế bầu cử, chính các cử tri mới thường là người quyết định khả năng tái cử của các nghị sĩ.

Thực tiễn các nước cho thấy, trong nhiều trường hợp, nghị sĩ không phải báo cáo giải trình nhiều trước cử tri về hoạt động lập pháp hay giám sát của mình, mà chủ yếu là về việc nghị sĩ đó đã mang lại lợi ích trực tiếp gì, thậm chí chỉ lợi ích nhỏ nhoi cho cử tri tại khu vực bầu cử. Cử tri quan niệm nghị sĩ có quyền lực, nguồn lực, các mối quan hệ, cho nên có thể giải quyết được hầu như mọi chuyện. Mặc dù công việc này nặng nề hơn ở các nước theo hệ thống bầu cử mỗi khu vực bầu một nghị sĩ, nhưng gần đây ở các nước khác, thậm chí ở các nước bầu theo danh sách đảng như Hà Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Đông Âu, khối lượng công việc này ngày càng tăng.

Bảo đảm lợi ích quốc gia

Giữ mối quan hệ với cử tri là rất cần thiết, nhưng nghị sĩ các nước cho rằng, không thể bỏ bê vế thứ hai là bảo đảm lợi ích của toàn thể quốc gia, mà phải đặt trong vai trò đại diện nói chung. Nếu chỉ lo chiều theo ý kiến của một nhóm cử tri nhỏ, nghị sĩ sẽ không làm tròn vai trò đại diện cho lợi ích quốc gia. Bên cạnh đó, nếu dành quá nhiều thời gian cho việc giữ mối quan hệ với cử tri, nghị sĩ sẽ không còn thời gian cho những hoạt động khác không kém phần quan trọng như lập pháp, giám sát. Về mặt lý thuyết, các nghị sĩ, đặc biệt là các hạ nghị sĩ, thường được xác định là đại diện cho toàn quốc gia bởi vì nhiệm vụ quan trọng nhất của Nghị viện, với tư cách là một chủ thể thống nhất, là ban hành các quyết định liên quan đến các vấn đề của toàn quốc gia chứ không phải là các vấn đề của một địa phương hay của một cá nhân nào đó.

Một dự án luật do Nghị viện thông qua có ý nghĩa thể hiện ý chí chung của toàn thể quốc gia nên không thể bị chi phối bởi lợi ích của một địa phương. Edmund Burke, nhà chính khách kiêm triết gia người Anh đã nhấn mạnh trong một bài phát biểu nổi tiếng của mình rằng: “Nghị viện là một hội nghị thảo luận của một quốc gia, với một lợi ích duy nhất, lợi ích của toàn thể quốc gia – nơi mà không một mục đích địa phương, không một sự thành kiến địa phương nào được phép chi phối, mà chỉ có lợi ích chung, bắt nguồn từ lí trí chung của toàn thể quốc gia. Quả thực là bạn đã bầu ra một nghị sĩ, nhưng khi bạn đã chọn ông ta, ông ta không phải là nghị sĩ của vùng Bristol, mà ông ta là nghị sĩ của quốc gia”(3). Chính vì vậy, nghị sĩ không thể dành hết thời gian cho một công việc nào cả, mà phải vừa xây dựng chính sách vì lợi ích quốc gia, vừa phải hoạt động với tư cách là sứ giả đại diện cho cử tri nơi mình được bầu. Để vừa làm hài lòng cử tri, vừa bảo vệ được lợi ích quốc gia, thông thường nghị sĩ các nước đúc rút một kinh nghiệm là: họ khoanh vùng những vấn đề gì cần quyết theo suy xét cá nhân của nghị sĩ là bảo vệ lợi ích quốc gia, còn lại là những vấn đề gì nên chiều lòng cử tri. Những vấn đề thuộc về lợi ích quốc gia gồm quốc phòng, đối ngoại, thương mại quốc tế…; còn những vấn đề như thất nghiệp, lương, hưu trí… họ thường được quyết theo ý kiến của cử tri.

Cơ chế hỗ trợ sự cân bằng hai dạng lợi ích

Pháp luật nhiều nước có những quy định giúp các nghị sĩ thoát khỏi thế “tiến thoái lưỡng nan” khi gặp phải các vấn đề có mâu thuẫn giữa lợi ích của địa phương và trung ương, cân bằng lợi ích của địa phương với lợi ích quốc gia.

Chẳng hạn, để đảm bảo sự độc lập của các nghị sĩ với các tác động của một địa phương có tính cố kết lâu đời, các nước thường quy định các khu vực bầu cử không trùng khớp với các đơn vị hành chính truyền thống(4). Điều này cũng góp phần tạo ra sự độc lập của nghị sĩ đối với bộ máy hành chính luôn có xu hướng bảo vệ lợi ích của địa phương, tạo sự gắn kết giữa nghị sĩ với cử tri hơn. Mặt khác, để tránh việc các cử tri có thể gây sức ép thái quá tới cá nhân từng nghị sĩ, các cử tri sẽ lựa chọn người đại diện theo danh sách đảng. Các nghị sĩ, vì vậy, sẽ có động lực phục vụ lợi ích của quốc gia nhiều hơn thông qua việc theo đuổi các đường lối, chính sách của đảng. Những đường lối, chính sách đó đương nhiên là mang tính quốc gia mà không phải chỉ để phục vụ một địa phương(5). Nhưng không phải vì vậy mà mối liên hệ giữa các cử tri và nghị sĩ bị mất đi. Các nghị sĩ vẫn có nhu cầu và động lực để duy trì tốt mối quan hệ với cử tri bởi vì dù sao đi nữa chính các cử tri, với các lá phiếu của mình, sẽ quyết định ai là người thắng cử trong cuộc bầu cử kế tiếp. Một giải pháp nữa là tạo ra một cơ cấu tổ chức của Nghị viện phù hợp để kết hợp đại diện hài hoà giữa lợi ích của các địa phương và của toàn quốc gia. Theo đó, Nghị viện sẽ bao gồm hai viện trong đó Hạ viện chủ yếu sẽ đại diện cho lợi ích của toàn quốc gia còn Thượng viện sẽ đại diện cho lợi ích của các địa phương49. Mô hình này thường phổ biến ở những quốc gia có hình thức tổ chức nhà nước liên bang.

3. Phục vụ cử tri tại khu vực bầu cử: Ba cách tiếp cận

Ở bất kỳ nơi đâu trên thế giới, các nghị sĩ phải “vật lộn” để đáp ứng nhu cầu, mong đợi ngày càng tăng của cử tri đã bầu ra mình. Công việc này được gọi là “phục vụ cử tri khu vực bầu cử” (constituency service). Có ba cách tiếp cận lớn trong việc đáp ứng nhu cầu của cử tri.

Đáp ứng các yêu cầu của cử tri

Ở nhiều nước, trong đa số các trường hợp, nghị sĩ đáp ứng đòi hỏi có tính vụ việc của cử tri. Một nghị sĩ từ Gabon kể lại, nhiều người dân đến gặp ông để hỏi tiền lo đám tang người nhà, hoặc là những người khác đến chỉ vì không kiếm đâu ra thức ăn. Tương tự, các nghị sĩ khác từ Malawi, Papua New Guinea cũng cho biết, có những cử tri đến gặp họ để hỏi tiền trang trải học phí cho con, tiền chữa bệnh, đi lại… Những nghị sĩ này nói, mặc dù đó không phải là công việc của nghị sĩ, nhưng họ vẫn đáp ứng vì những lý do con người và cũng muốn chiếm cảm tình của cử tri(6). Nghị sĩ nhiều nước nắm được những bức xúc của cử tri trước những hành vi nào đó của công quyền, từ đó nghị sĩ hoặc trực tiếp hoặc qua các kênh khác nhau tác động, gây sức ép buộc công quyền phải “sửa lỗi”. Một nhà nghiên cứu Nghị viện gọi chức năng giám sát công quyền này của nghị sĩ là “chân chạy của cử tri”, có nghĩa là có việc gì không hài lòng, cử tri lại đến gõ cửa nghị sĩ, và nghị sĩ sau khi lắng nghe cử tri lại “chạy” đến gõ cửa công quyền thay cử tri(7). Nhưng cũng có những trường hợp nghị sĩ không thành công được như vậy, hoặc thậm chí không can thiệp nổi. Ví dụ như một nghị sĩ Thụy Điển đã phải mời cả một vị giáo sư từ Gothenburg tới để giải thích cho một quan chức địa phương rằng cách thực thi pháp luật của ông ta là chưa đúng, nhưng không thuyết phục được ông ta. Một cử tri khác phàn nàn rằng ông ta đã phải trả tiền điện thoại quá nhiều so với thực tế. Ông ta đã kiện đến tất cả các cơ quan chức năng có liên quan, nhưng không thắng kiện. Nghị sĩ tin ông ta đúng, nhưng không biết phải làm thế nào để giúp ông ta. Nhiều nghị sĩ Thụy Điển cố gắng tìm hiểu các vấn đề và trả lời cử tri. Khi yêu cầu một Bộ trưởng trả lời thư hoặc đáp ứng quyền lợi của cử tri, một nghị sĩ thường đề nghị gửi cho bà một bản sao của thư trả lời để chắc chắn là yêu cầu đó đã được thực hiện. Bà đã sao gửi những bức thư đó cho tất cả các tờ báo địa phương, thông tin nhanh chóng được truyền bá và được đánh giá cao.

Từ vụ việc đơn lẻ đến giải pháp chung cho cộng đồng

Xuất phát từ những đòi hỏi riêng lẻ, nhiều nghị sĩ đã nghĩ đến giải pháp chung cho cả cộng đồng. Như một nghị sĩ Ghana nhận xét, áp lực ngày càng tăng từ những yêu cầu, đòi hỏi mang tính cá nhân của cử tri làm cho cách tiếp cận truyền thống không còn phù hợp, nghị sĩ không thể đáp ứng hết, cần phải có các giải pháp chung.

 Theo kết quả nghiên cứu về những nước như Uganda, Kenya, Zambia, cử tri có xu hướng bầu lại cho các nghị sĩ dựa nhiều vào việc đánh giá những việc nghị sĩ đó đã làm được cho cộng đồng hơn là những vụ việc đơn lẻ. Một nữ nghị sĩ Indonesia có sáng kiến hỗ trợ đào tạo cho những người muốn khởi nghiệp kinh doanh nhỏ, và dần dần, sáng kiến này phát triển thành chương trình tín dụng nhỏ hỗ trợ những người như vậy về vốn khởi nghiệp. Những người nghèo nhất tham gia chương trình này còn được nhận phiếu giảm giá rất nhiều đối với những lương thực thiết yếu như gạo, dầu56. Các nghị sĩ Thụy Điển quan niệm rằng, cần phải luôn giải thích rõ cho cử tri hiểu, nghị sĩ không thể làm việc với tư cách là đại diện cho riêng cá nhân một cá nhân nào. Nhưng đôi khi một số vụ việc cụ thể có thể được nghị sĩ quan tâm nếu đó là trung tâm chú ý của nhiều người.

Saber Chowdhury là nghị sĩ thuộc khu vực bầu cử ở thủ đô của Bangladesh với 400 ngàn cử tri. Ông đã sáng lập và điều hành hệ thống tín dụng nhỏ thông qua văn phòng cử tri của mình. Hiện tại mạng lưới tín dụng nhỏ này có 25 ngàn người từ khu vực bầu cử của Chowdhury tham gia. Cho đến năm 2011, đã có 20 ngàn khoản vay được chấp thuận, hỗ trợ người dân khởi nghiệp kinh doanh. Chowdhury cũng áp dụng mô hình tương tự để cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe rẻ tiền cho cử tri của mình và phát triển chương trình đào tạo công nghệ thông tin cho thanh, thiếu niên trong khu vực bầu cử.

Từ yêu cầu của cử tri thành quyết sách chung của quốc gia

Nhiều nghị sĩ cố gắng đưa những nguyện vọng, tâm tư, đòi hỏi của cử tri vào quy trình lập pháp của Nghị viện, biến chất liệu cuộc sống thành những quyết sách của quốc gia.

Trong nhiều trường hợp khác, các nghị sĩ dùng đơn thư khiếu nại của các công dân như những dẫn chứng minh hoạ cho một vấn đề mang tính phổ biến, được nhiều người quan tâm. Ví dụ, từ các đơn thư khiếu nại về các vấn đề như ngân sách dành cho các trường tư thục, đối xử với người tị nạn…, các nghị sĩ cũng đã nêu vấn đề chất vấn, đề xuất sáng kiến lập pháp, dẫn đến những thay đổi trong chính sách liên quan. Một nghị sĩ Thụy Điển thay vì “kính chuyển” vụ việc đến một cơ quan khác, đã tìm ra giải pháp thay đổi pháp luật để đáp ứng được những vụ việc cụ thể đó và đã thành công trong một số trường hợp.

4. Giữ mối liên hệ với cử tri

Giữ mối liên hệ với cử tri là một quá trình mà trong đó các nghị sĩ, các Nghị viện và các đảng chính trị phải phát triển và duy trì việc đối thoại hai chiều với công dân mà họ đại diện nhằm đảm bảo rằng mọi quyết định đưa ra đều phản ánh quyền lợi của công dân và dựa trên các ý kiến đóng góp của công dân. Thực tế ở các nước cho thấy, mối liên hệ giữa nghị sĩ và cử tri được chú trọng hơn, thường xuyên hơn và chặt chẽ hơn ở những nước có hệ thống bầu cử theo khu vực bầu cử, nhất là những nước mỗi khu vực bầu cử chỉ bầu một nghị sĩ. Các nhà nghiên cứu cho rằng, điều này có nguyên nhân là nghị sĩ phụ thuộc nhiều hơn vào cử tri nơi bầu ra mình, và nghị sĩ cảm thấy ràng buộc về mặt bổn phận nhiều hơn. Mặt khác, cử tri có điều kiện biết đến nghị sĩ nhiều hơn, vì khu vực bầu cử dĩ nhiên hẹp hơn vùng hoặc cả quốc gia; hơn nữa, sự hiện diện của nghị sĩ tại khu vực bầu cử cũng thường xuyên hơn.

Mặt khác, mức độ, cường độ đòi hỏi, mong đợi của cử tri đối với nghị sĩ ở các nước đơn nhất cao hơn ở các nước liên bang. Điều này có nguyên nhân là ở các nước liên bang, ngoài Nghị viện liên bang còn có Nghị viện của các tiểu bang, cho nên một phần những nỗi niềm của cử tri đã “thẩm thấu” vào “tầng” đại diện cấp tiểu bang này trước khi lên đến “tầng” đại diện cấp liên bang. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng điều này chỉ đúng với trường hợp quốc gia đơn nhất có dân số tương đương quốc gia liên bang. Nếu quốc gia đơn nhất có dân số nhỏ, quốc gia liên bang dân số lớn thì có khả năng nghị sĩ ở quốc gia liên bang phải nhận nhiều yêu cầu, đòi hỏi hơn nghị sĩ ở quốc gia đơn nhất. Điển hình sự so sánh này là giữa nghị sĩ Ireland so với nghị sĩ CHLB Đức.

Các hình thức giữ mối liên hệ với cử tri

Để giữ mối liên hệ với cử tri, nghị sĩ các nước có nhiều hình thức khác nhau: chủ động trực tiếp gặp cử tri; tiếp đón cử tri đến gặp nghị sĩ ở văn phòng nghị sĩ ở trong toà nhà Nghị viện hoặc ở khu vực bầu cử; qua trao đổi thư tín, email, điện thoại; qua các trang web v.v… - Gặp gỡ trực tiếp ở khu vực bầu cử: Ở hầu hết các nước, nghị sĩ được dành khoảng thời gian nhất định để về khu vực bầu cử của mình, gặp gỡ cử tri. Chẳng hạn, hàng tháng các nghị sĩ Chile được dành tuần thứ tư để tiếp xúc cử tri ở khu vực bầu cử của mình. Ở Sri Lanka, trong tuần thứ hai và thứ tư nghị sĩ làm việc tại khu vực bầu cử của họ, nơi người dân có thể gặp gỡ nghị sĩ. Nghị sĩ hay được mời dự những sự kiện trang trọng ở địa phương như khai mạc buổi lễ hội, cắt băng khánh thành ngôi trường mới xây… Một nghị sĩ đến từ Gabon nói, mặc dù cử tri có thể đến Tòa nhà Quốc hội hoặc văn phòng riêng, nhưng 80% các cuộc gặp với cử tri của ông diễn ra tại nhà riêng.

- Các cuộc họp gặp cử tri: Ở nhiều nước, cá nhân nghị sĩ thường mượn những địa điểm công cộng như siêu thị, trường học, quán café để tổ chức các cuộc gặp gỡ với cử tri ở khu vực bầu cử. Không khí cuộc gặp có tính chất thoải mái, gần gũi. Ở một số nước, Nghị viện tổ chức các cuộc gặp mặt cử tri cho nghị sĩ. Ví dụ, ở Campuchia từ năm 2004 đến nay đã diễn ra hàng loạt cuộc đối thoại ở địa phương có tính chất mở, ai muốn đều được vào, giữa nghị sĩ của tất cả các chính đảng trong Quốc hội Campuchia với cử tri. Từ tháng 11/2010 đến tháng 9/2011 đã diễn ra 24 cuộc đối thoại như vậy tại 12 tỉnh của Campuchia với sự tham gia của 35 nghị sĩ, thu hút được gần 12 ngàn người dự, trong đó một nửa là phụ nữ, mỗi cuộc trung bình có khoảng 500 cử tri đến dự. Hai đài phát thanh đã tường thuật trực tiếp các cuộc đối thoại trên toàn quốc.

- Văn phòng cử tri: Trong những năm gần đây một số cơ quan lập pháp đã thực hiện các biện pháp để bảo đảm cho các đại diện dân cử có được không gian vật lý và cơ hội gặp gỡ với cử tri.

- Trao đổi thư tín, liên lạc: Trao đổi thư tín là hình thức giữ mối liên hệ với cử tri của nghị sĩ các nước. Theo thông lệ ở một số nước, nếu thư chỉ phản ánh ý kiến của cử tri, nghị sĩ sẽ phúc đáp là đã nhận được thư và cám ơn đã đóng góp ý kiến. Đối với những thư đề nghị giúp đỡ, ví dụ khi cử tri có vướng mắc với một cơ quan công quyền nào đó, nghị sĩ sẽ chuyển thư đến bộ tương ứng. Ở Anh, công việc này thường xảy ra đến nỗi nghị sĩ chỉ cần gắn tấm danh thiếp của mình kèm vào đơn thư của cử tri, chứ không cần phải thảo công văn gửi bộ trưởng. Dạng văn bản này của nghị sĩ được xem xét đầu tiên, và thư trả lời phải do bộ trưởng ký gửi cho nghị sĩ, nghị sĩ chuyển lại cho cử tri. Thống kê cho thấy, hàng năm các hạ nghị sĩ Anh gửi từ 150.000 đến 200.000 thư đến bộ trưởng. Nếu cử tri vẫn không hài lòng với câu trả lời, hoặc bộ trưởng không có phản hồi, lúc đó nghị sĩ mới trực tiếp gặp bộ trưởng hoặc nêu vấn đề trước phiên họp toàn thể của Hạ viện.

Ở Anh, nghị sĩ tìm cách gặp bộ trưởng một cách chính thức tại văn phòng bộ trưởng, hoặc không chính thức vào giờ nghỉ giải lao ở Nghị viện. Chỉ sau khi gặp bộ trưởng mà không giải quyết được chuyện của cử tri nêu, nghị sĩ mới đưa nó ra phiên họp toàn thể. Nói về trao đổi thư tín thông thường, tất cả các nghị sĩ Thụy Điển nhận được thư điện tử của cử tri hàng ngày, có khi đề cập đến những vấn đề đã được nhắc đến rất nhiều lần, lúc khác được gửi từ các trường phổ thông hoặc sinh viên đại học đề nghị giúp đỡ viết bài, nhưng có nhiều thư được gửi từ những người không có yêu cầu gì cụ thể. “Những bức thư càng chi tiết và cụ thể thì tôi càng dành nhiều thời gian để trả lời” – Một nghị sĩ cho biết.

- Tiếp nhận đơn thư khiếu nại: Ở nhiều nước như Canada, Đức, cử tri có thể gửi kiến nghị bằng văn bản (petition) cho Nghị viện hoặc nghị sĩ. Bất kỳ một nhóm công dân hay cá nhân công dân nào cũng có thể gửi kiến nghị để bày tỏ ý kiến của mình về những vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của Nghị viện mà họ cho rằng còn có khiếm khuyết. Sau khi nhận đơn, nghị sĩ sẽ chuyển cho uỷ ban thích hợp, uỷ ban xử lý về mặt thủ tục và tổ chức phiên điều trần để nghe các bên trình bày về vấn đề liên quan69. Số lượng đơn thư khiếu nại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: nơi nghị sĩ sống là một thị trấn nhỏ hay là một thành phố lớn; gần đây nghị sĩ có xuất hiện trên các phương tiện truyền thông hay không, được biết đến nhiều không... Số lượng khiếu nại cũng phụ thuộc vào những tranh luận tại thời điểm cụ thể, ví dụ số vấn đề hấp dẫn người nghe nhiều hơn những vấn đề khác v.v…

Quỹ phát triển khu vực bầu cử

Yêu cầu, đòi hỏi của cử tri đối với nghị sĩ là rất lớn. Tuy nhiên, như một nghiên cứu toàn cầu của IPU năm 2012 cho thấy, những nỗ lực nhằm đáp ứng yêu cầu đó chủ yếu mang tính chất cá nhân của nghị sĩ, mà chưa thấy chiến lược chung của Nghị viện. Nhiều nghiên cứu đã khuyến cáo các giải pháp về mặt thể chế nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu của cử tri, trong đó có Quỹ phát triển khu vực bầu cử, gọi tắt là CDF (Constituency Development Fund)(8). Đây là một loại quỹ từ ngân sách quốc gia chi cho các mục đích phát triển của các khu vực bầu cử thông qua nghị sĩ được bầu từ khu vực đó. Nghị sĩ sẽ phân bổ quỹ hoặc xác định quỹ này sẽ được dùng như thế nào, vào những dự án nào cho đúng với nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng của khu vực bầu cử giúp như: xây cầu, phòng khám bệnh, hệ thống cấp nước, trường học...

Để phát huy tác dụng tiềm tàng của nó, việc quản lý CDF có ý nghĩa rất quan trọng. Trên phương diện này, CDF ở Uganda bị chỉ trích vì cơ chế quản lý lỏng lẻo, tiền được chuyển thẳng vào tài khoản của nghị sĩ, hầu như phó mặc cho nghị sĩ, không có các cơ chế kiểm tra, giám sát trách nhiệm báo cáo giải trình về việc chi tiêu. Điều này dẫn đến nhiều trường hợp sai phạm trong việc sử dụng Quỹ ở Uganda. Trong khi đó, CDF ở Jamaica được vận hành một cách chuyên nghiệp, chặt chẽ hơn nhiều. Mỗi nghị sĩ được phân bổ khoảng 230 ngàn USD, nhưng họ bắt buộc phải xây dựng kế hoạch phát triển 5 năm cho khu vực bầu cử của mình từ khoản tiền này. Trong quá trình đó, nghị sĩ phải tham vấn với các nhóm xã hội ở địa phương, các NGO, các cá nhân nhằm bảo đảm việc lựa chọn và sắp xếp ưu tiên các dự án đúng là của cử tri, chứ không phải của cá nhân nghị sĩ. Kế hoạch này trước tiên phải được bộ phận phụ trách CDF thuộc Phủ Thủ tướng xem xét, sau đó phải được một Ủy ban liên đảng trong Nghị viện chấp thuận. Việc theo dõi và giám sát giải ngân Quỹ này thuộc trách nhiệm của các cơ quan thực thi liên quan, Ủy ban Giám sát các dự án dành cho khu vực cử tri, Ủy ban của Nghị viện và bản thân các nghị sĩ. Nhờ có quy trình chặt chẽ, CDF ở nước này đã mang lại những kết quả cụ thể như tạo ra các trung tâm sinh hoạt cộng đồng, đào tạo người thất nghiệp, duy tu bảo dưỡng đường bộ… Tương tự, việc sử dụng CDF ở nhiều nước khác, ví dụ như ở Kenya từ năm 2012 chịu sự kiểm soát chặt chẽ hơn nhiều. Như vậy, nếu được giám sát, sử dụng đúng mục đích, các quỹ này có thể giúp trang trải các nhu cầu quan trọng ở địa phương, góp phần đạt các mục tiêu phát triển, nhất là giảm nghèo ở các nước đang phát triển, phản ứng nhanh nhạy, hiệu quả hơn trước đòi hỏi của cử tri. Qua đó, uy tín của nghị sĩ tăng lên, mối liên hệ giữa nghị sĩ và cử tri trở nên chặt chẽ hơn.

5. Một số tư tưởng về dân chủ đại diện 

Dân chủ đại diện hay dân chủ gián tiếp là một hình thức chính phủ, trong đó người dân bầu ra những người đại diện có thể bảo vệ, quản lý, thiết lập và thực hiện tất cả các lợi ích của dân chúng .

Cơ sở chính của dân chủ đại diện là bỏ phiếu trực tiếp, nghĩa là, phương tiện mà dân chúng có thể đánh giá cao tất cả các ứng cử viên cho đại diện của nhân dân và chọn những người mà họ cho là thích hợp nhất để đại diện cho họ.

Các đại diện được bầu thông qua bỏ phiếu có thể là các ủy viên hội đồng thành phố, đại biểu nhà nước, đại biểu nhà nước, thượng nghị sĩ, thống đốc, v.v. Về mặt lý thuyết, chức năng của những người được bầu là đại diện cho quyền và lợi ích của những người đã bầu họ, tuy nhiên, nhiều ví dụ về các hệ thống dân chủ trên khắp thế giới cho thấy mối quan hệ giữa đại diện và dân số là khá đáng nghi ngờ.

Theo nghĩa từ nguyên của nó, dân chủ là một mô hình của chính phủ, trong đó chủ quyền được thực thi bởi người dân. Trong bối cảnh này, toàn bộ dân chúng có quyền bày tỏ ý kiến ​​của họ khi chọn một trong những đại diện có sẵn.

Tuy nhiên, vì hiệu quả của chế độ dân chủ đại diện, tất cả những người nắm giữ các cơ quan công quyền của Quyền lập pháp và Quyền hành pháp và được dân chúng bầu chọn, phải được đổi mới liên tục, nghĩa là, thời gian cố định được quy định cho những người mới bầu cử.

Tư tưởng về dân chủ đại diện có một lịch sử rất sâu xa và bên cạnh đó, sự thực hành của dân chủ đại diện đã và đang bồi đắp thêm những kinh nghiệm cho nhân loại về việc thúc đẩy vai trò của nó. Thời kỳ cổ đại với những tư tưởng sơ khai nhưng lại đóng vai trò là nền móng cho sự ra đời của tư tưởng dân chủ đại diện. Tiếp theo đó, Châu Âu bước vào thế kỷ XVII, XVIII với những thay đổi to lớn về kinh tế, xã hội và kéo theo đó là các cuộc cách mạng cả về tư tưởng. Sự ra đời và lớn mạnh của giai cấp tư sản cùng những mâu thuẫn sâu sắc với chế độ phong kiến khiến cho họ phải liên kết với nông dân và giới bình dân cho cuộc tranh đấu của mình. Đó là căn nguyên sâu xa cho sự ra đời của những dòng tư tưởng cổ vũ dân chủ nói chung và dân chủ đại diện nói riêng. Những tư tưởng về dân chủ đại diện đã hình thành từ rất sớm trong lịch sử. Nó thai nghén từ các nền văn minh phương Tây, và tiếp tục được các quốc gia châu Âu nuôi dưỡng trong suốt thời kỳ Khai sáng. Lịch sử tư tưởng về dân chủ đại diện cho thấy, nó không chỉ ra đời một cách tự nhiên, trong những bối cảnh kinh tế, xã hội nhất định, mà còn trở thành một hệ giá trị mà ngày nay, nhân loại vẫn tìm về tham khảo nhằm hoàn thiện hệ thống chính quyền để bảo vệ tốt hơn quyền con người. Bên cạnh đó, dân chủ đại diện còn là kết quả của những cuộc đấu tranh khốc liệt thời kỳ cách mạng tư sản. Do đó, nó là sự kết tinh không chỉ của trí tuệ mà còn từ thực tiễn sống động

Danh mục tài liệu tham khảo:

(1). Philip Norton (Ed.) (2002), Parliaments and Citizens in Western Europe, (Frank Cass, London).

(2). Dẫn trên.

(3). Edmund Burke, Speech to the electors of Bristol, có tại http://press-pubs.uchicago. edu/founders/documents/v1ch13s7.html

(4). Greg Power and Rebecca A. Shoot (2012), Global Parliamentary Report – The Changing Nature of Parliamentary Representation (IPU and UNDP, Geneva).

(5). Dẫn trên.

(6). Dẫn trên.

(7). Philip Norton (Ed.) (2002), đã dẫn.

(8). Greg Power and Rebecca A. Shoot (2012), đã dẫn