1. Tổng quan về hệ thống pháp luật của Cộng hòa Pháp

Pháp nằm trong hệ thống Dân luật (Luật Châu Âu lục địa), hệ thống luật giữ vai trò quan trọng trên thế giới hiện nay (59% dân số thế giới chịu ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp bởi hệ thống pháp luật này).

Dân luật, kế thừa trực tiếp từ hệ thống Luật La Mã cổ đại được hiểu là hệ thống chủ yếu dựa trên các văn bản viết và dần được pháp điển hóa theo thời gian, có giá trị pháp lý bắt buộc.

Hệ thống Pháp luật của Pháp nhìn tổng thể được chia làm hai nhánh chính : Luật công và luật tư.

- Luật công điều chỉnh hệ thống tổ chức quyền lực của Nhà nước và mối quan hệ giữa các cá nhân với Nhà nước. Các quy phạm được ban hành nhằm thỏa mãn lợi ích chung và mang tính chất bắt buộc. Sự vi phạm sẽ bị trừng phạt theo hệ thống tòa hành chính của Pháp. Một số ngành luật thuộc hệ thống luật này : Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Luật Tài chính công…

- Luật tư điều chỉnh mối quan hệ giữa các cá nhân là thể nhân hoặc pháp nhân (ví dụ : các công ty hay các hiệp hội). Các quy tắc được ban hành nhằm chủ yếu thỏa mãn quyền lợi cá nhân. Sự vi phạm các qui định sẽ bị điều chỉnh bởi hệ thống tòa tư pháp của Pháp. Một số ngành luật thuộc hệ thống này gồm: dân sự, thương mại, lao động…

Về thứ bậc các văn bản quy phạm Pháp luật, có thể xếp hệ thống Pháp luật của Pháp theo hình tháp, bao gồm các văn bản cơ bản sau :

- Hiến pháp cùng các văn bản đi kèm,

- Điều ước và hiệp ước quốc tế,

- Luật Cộng đồng Châu Âu,

- Luật thông qua bởi Quốc hội Pháp,

- Nghị định, Quyết định của Chính phủ,

- Các văn bản hành chính khác của các cơ quan cấp dưới …

Văn bản đứng trước có giá trị cao hơn và bác bỏ các văn bản phía sau trong trường hợp có mâu thuẫn trong quy định.

2. Hệ thống cơ quan tư pháp của Cộng hòa Pháp

Về hệ thống cơ quan tư pháp, Pháp là nước có sự tồn tại hai hệ thống cơ quan khá đặc biệt: Tòa hành chính và Tòa tư pháp. Việc phân chia thành hai cơ quan riêng biệt này xuất phát từ mong muốn có một sự độc lập và khách quan trong hoạt động tư pháp và có nguồn gốc từ chủ thuyết tam quyền phân lập.

Tòa hành chính chuyên xét xử các tranh chấp giữa một bên là nhà nước, các cơ quan hành chính lãnh thổ, các cơ sở công (bao gồm cả thể nhân và pháp nhân) với các cá nhân. Mặt khác, tòa cũng giải quyết các tranh chấp giữa các pháp nhân chịu sự điều chỉnh bởi hệ thống luật công với nhau.

Tòa tư pháp chuyên xét xử các vụ việc thuộc lĩnh vực hình sự và các tranh chấp giữa các cá nhân. Tòa tư pháp có thể can thiệp trong lĩnh vực tranh tụng hay trong một số lĩnh vực liên quan tới quyền nhân thân (cấp giấy tờ cho phép thay đổi chế độ hôn nhân). Tòa tư pháp gồm hai cấp, cấp sơ thẩm và phúc thẩm.

Ngoài hai hệ thống cơ quan tư pháp kể trên, ở Pháp còn tồn tại Tòa án giải quyết tranh chấp (tribunal des conflits). Tòa án này có nhiệm vụ xác định xem vụ việc thuộc thẩm quyền của tòa án nào trong trường hợp xảy ra tranh chấp.

Trong những năm gần đây, hệ thống Pháp luật của Pháp đã có một số thay đổi, đặc biệt là có những ảnh hưởng mạnh mẽ từ phía Luật cộng đồng do có sự tác động mạnh mẽ của những thay đổi trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội…

3. Khái niệm án lệ

Về cơ bản, các cơ quan tài phán của Cộng hoà Pháp được chia thành ba hệ thống tách biệt nhau: Hệ thống tài phán hiến pháp có thẩm quyền xét xử các văn bản pháp luật do Quốc hội ban hành, đảm bảo sự hợp hiến của các văn bản này; hệ thống tài phán hành chính xét xử văn bản hành chính, hành vi hành chính của các cơ quan hành chính từ trung ương tới địa phương; đảm bảo nội dung các văn bản này phù hợp với luật do Quốc hội ban hành và giải quyết tranh chấp giữa cơ quan hành chính với tổ chức, cá nhân; hệ thống tài phán tư pháp giải quyết các vụ việc trong lĩnh vực dân sự (theo nghĩa rộng, bao gồm dân sự kinh tế, thương mại, lao động, hôn nhân, gia đình…) và các vụ án hình sự. Tương ứng với ba hệ thống tài phán này có ba loại án lệ khác nhau, tạm gọi là án lệ hiến pháp, án lệ hành chính và án lệ tư pháp. Như vậy, trước tiên cần phải có sự phân biệt giữa ba loại án lệ trên, bởi lẽ mỗi loại đều có những đặc điểm khác nhau và quy chế nguồn luật của chúng cũng không giống nhau.

Án lệ hiến pháp là một lĩnh vực tương đối đặc thù, Án lệ hành chính là nguồn chủ yếu của luật hành chính của Cộng hoà Pháp. Hầu hết các chế định quan trọng của pháp luật hành chính của Cộng hoà Pháp đều tồn tại dưới dạng án lệ do Tòa án hành chính tối cao ban hành. Án lệ này có hiệu lực áp dụng bắt buộc đối với các cơ quan Nhà nước và các Toà hành chính cấp dưới. Trái lại, án lệ tư pháp là một hiện tượng phức tạp hơn. Cuộc tranh luận về qui chế nguồn luật của án lệ chủ yếu tập trung vào loại án lệ tư pháp. Do vậy, những vấn đề trình bày dưới đây đều liên quan đến loại án lệ này.

4. Cơ chế hình thành án lệ của Cộng hòa Pháp

Về nguyên tắc, mỗi bản án là một quyết định cá biệt chỉ có hiệu lực áp dụng đối với vụ việc mà nó giải quyết chứ không có hiệu lực áp dụng chung đối với các vụ việc khác, Vậy cơ chế nào cho phép chuyển cái cá biệt của bản án thành cái bao quát của án lệ có giá trị áp dụng chung cho nhiều vụ việc? Theo một sơ đồ giản lược nhất, để hình thành án lệ, trước tiên phải có bản án. Bản án chính là chất liệu đầu tiên hình thành nên án lệ. Nội dung của bản án thường bao gồm hai phần: Phần nội dung của vụ việc và phần quyết định của Toà án

Chất liệu đầu tiên để hình thành nên án lệ chính là bản án, trong đó phần nhận định của Thẩm phán là phần quan trọng nhất. Tuy nhiên, để trở thành án lệ, quan điểm nhận định này phải trở thành quan điểm chung của các Toà án khi giải quyết các vụ việc tương tự. Như vậy, ở đây xuất hiện một yếu tố thứ hai tham gia vào quá trình hình thành án lệ, đó là yếu tố tiền lệ. Nói cách khác, để có án lệ thì phải có tiền lệ, tức là trước đó đã từng có nhiều bản án đưa ra cách giải quyết tương tự, rồi dần dần hình thành nên một tiền lệ trong việc giải quyết các trường hợp đó. Theo nguyên tắc độc lập xét xử, Thẩm phán có toàn quyền trong việc giải quyết vụ việc theo cách riêng của mình, không lệ thuộc vào quan điểm của các Thẩm phán khác. Ngay chính một Thẩm phán cũng có thể  xét xư theo  những cách khác nhau đối với các vụ việc tương tự như nhau.

Tuy nhiên, trên thưc tế, do sự tác động của yếu tố tâm lý, Thẩm phán thường có xu hướng lựa chọn cách giải quyết đã từng được áp dụng trước đây cho các vụ việc tương tự, nếu như giải pháp này đã được chấp nhận rộng rãi và có tính chất như một qui phạm được các Thẩm phán khác tuân theo. Điều này vừa đảm bảo được tính liên tục trong quan điểm xét xử của Toà án, vừa tránh cho Thẩm phán phải đưa ra một cách giải quyết mới chưa chắc đã  phù hợp với yêu cầu và chưa chắc  đã được chấp nhận.

Bên cạnh hai yếu tố trên (bản án và tiền lệ), còn có một yếu tố thứ ba tham gia vào quá trình hình thành án lệ đó là yếu tố thống nhất hoá thông qua vai trò giám sát của Toà án cấp trên đối với Toà án cấp dưới. Chính vai trò giám sát này thể hiện qua cơ chế kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm sẽ đảm bảo hình thành một án lệ thống nhất cho một địa phương (trong mối quan hệ giữa Toà phúc thẩm và các Toà sơ thẩm) hoặc cho toàn quốc (trong mối quan hệ giữa Toà án tối cao và các Toà cấp dưới.

Trong quá trình hình thành án lệ, còn một yếu tố nữa có vai trò rất quan trọng đó là công tác thông tin về án lệ nhằm công khai hoá và phổ biến rộng rãi bản án, quyết định của Toà án các cấp. Sẽ không thể có án lệ nếu các bản án, quyết định của Toà án không được phổ biến rộng rãi để mọi người cùng biết và tham khảo. Thẩm phán sơ thẩm và phúc thẩm khi đứng trước một vấn đề pháp lý cần giải quyết đều tham khảo án lệ của Toà án tối cao và của các Tòa án khác.

5. Vai trò của hệ thống án lệ ở Cộng hoà Pháp

– Án lệ nguồn luật thực tế

Mặc dù quy phạm án lệ không có hiệu lực cưỡng chế mang tính pháp lý như quy phạm pháp luật nhưng trên thực tế nó có tầm ảnh hưởng rất lớn đối với các đối tượng áp dụng pháp luật cũng như các chủ thể áp dụng pháp luật. Bên cạnh đó, cũng không thể phủ nhận vai trò của án lệ hoặc việc tạo nguồn quy phạm cho pháp luật thông qua hai chức năng rất quan trọng của nó là bổ sung cho sự khiếm khuyết của pháp luật và giải thích, vận dụng pháp luật trong các trường hợp cụ thể.

Đối với các đối tượng áp dụng pháp luật là các cơ quan, tổ chức, cá nhân, quy phạm án lệ là một nguồn tham khảo quan trọng trong quá trình tuân thủ pháp luật của họ. Bởi lẽ quy phạm pháp luật đi vào đời sống thực tế thông qua sự áp dụng của Toà án vào các trường hợp tranh chấp. Dưới con mắt của các đối tượng áp dụng pháp luật, bản án, quyết định của Toà án chính là một chuẩn mực pháp lý, một sự phản chiếu các quy phạm pháp luật trong đời sống thực tế. Tuân thủ quy tắc ứng xử do Toà án quy định trong bản án chính là tuân thủ pháp luật. Tâm lý này hoàn toàn có thể hiểu được, bởi họ nhận thức được rằng nếu ứng xử trái với các quy tắc đó, thì trong trường hợp có tranh chấp đưa ra Toà, người vi phạm quy tắc đó sẽ khó có cơ may thắng kiện.

 Án lệ bổ sung cho sự khiếm khuyết của pháp luật

Theo qui định tại Điều 41, Bộ luật Dân sự 1804, Thẩm phán có nghĩa vụ phải xét xử kể cả trong trường hợp pháp luật không qui định hoặc qui định không rõ ràng về vấn đề mà mình đang thụ lý. Xét xử là một nghĩa vụ pháp lý mà Thẩm phán không thể viện dẫn bất cứ lý do gì để từ chối và nếu vi phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội từ chối xét xử. Trong khi đó, thực tế cho thấy không thiếu các trường hợp Thẩm phán phải đứng trước khoảng trống của pháp luật về vấn đề mình đang phải xử lý. Như vậy, với nghĩa vụ phải xét xử rõ ràng Thẩm phán sẽ đóng vai trò là người bổ sung cho sự khiếm khuyết của pháp luật. Trong những trường hợp này, Thẩm phán dựa trên cơ sở các nguyên tắc chung của pháp luật để sáng tạo ra một quy phạm áp dụng riêng cho trường hợp cụ thể đó. Tất nhiên, quy phạm này chỉ mang tính chất cá biệt, nằm trong một quyết định cá biệt có giá trị áp dụng đối với một trường hợp cụ thể, nhưng dù sao nó cũng tạo ra một tiền lệ, để sau này, khi xảy ra một vụ việc tương tự, Thẩm phán sau sẽ giải quyết theo cùng một hướng và một án lệ mới sẽ dần hình thành từ đó.

– Án lệ giải thích và vận dụng pháp luật

Giải thích và vận dụng pháp luật trong từng trường hợp cụ thể là chức năng chủ yếu của Thẩm phán. Hơn nữa, theo quy định tại Điều 4, Bộ luật Dân sự 1804, giải thích và vận dụng pháp luật còn là một nghĩa vụ của Thẩm phán.

Những trường hợp Thẩm phán phải giải thích và vận đụng pháp luật rất đa dạng, do pháp luật quy định không rõ ràng, pháp luật quy định một cách vô lý hay đã bị lạc hậu so với tình hình thực tế mà nhà lập pháp chưa có điều kiện hay vì một lý do nào đó chưa thay thế bằng một quy định mới.

Có thể nói rằng chính qua hai chức năng bổ khuyết cho pháp luật và giải thích, vận dụng pháp luật nêu trên, án lệ có đóng góp rất lớn vào việc tạo nguồn qui phạm cho pháp luật. Trong thực tiễn xét xử hàng ngày, Thẩm phán “gợi ý” cho nhà làm luật về những khiếm khuyết hay những điểm chưa phù hợp của pháp luật, từ đó đề suất các qui phạm mới cần ban hành. Các quy phạm đó, thời kỳ đầu tồn tại dưới hình thức và qui phạm án lệ. Sau này, khi đã được thử thách qua thực tế, rất có thể nó sẽ được nhà làm luật công nhận chính thức và nâng nó lên thành qui phạm pháp luật. Án lệ được coi là một nguồn thực tế của pháp luật là vì lý do đó.