1. Pháp luật quy định về quyền tố giác tội phạm như thế nào?
So với các nước trên thế giới và trong khu vực, tình hình tội phạm ở Việt Nam được đánh giá ở mức trung bình thấp, tuy nhiên tính chất của tội phạm lại rất phức tạp. Mặc dù tỷ lệ tội phạm tổng thể ở nước ta không cao, nhưng điều đáng lưu ý là tỷ lệ tội phạm ẩn trong xã hội lại khá cao, đặc biệt là trong lĩnh vực tội phạm về kinh tế và ma tuý.
Trong lĩnh vực kinh tế, tội phạm thường có tính chất phức tạp và có thể gây ra những hậu quả lớn, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Các hoạt động trốn thuế, làm giả chứng từ, tham nhũng, gian lận thương mại và những hành vi lừa đảo tài chính đã gây ra nhiều hậu quả tiêu cực cho xã hội và gây mất lòng tin của công chúng vào cơ quan quản lý và doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi các cơ quan chức năng phải tăng cường giám sát, kiểm soát và xử lý nghiêm những vi phạm về kinh tế, từ đó tạo ra môi trường kinh doanh và đầu tư lành mạnh, minh bạch và công bằng.
Các loại tội phạm hình sự nguy hiểm, sử dụng bạo lực, hình thành các băng, ổ nhóm, hoạt động có tổ chức phức tạp, tính chất, mức độ phạm tội ngày càng nghiêm trọng, có sự móc nối với một số cán bộ công chức nhà nước, hoạt động lưu động, công khai, trắng trợn, gây tâm lý hoang mang lo sợ trong nhân dân và thường tập trung vào một số loại tội phạm như: giết người; cướp tài sản; cố ý gây thương tích, giết người thuê; bảo kê nhà hàng, khách sạn, vũ trường, tổ chức các sòng bạc, cá độ, ma tuý, mại dâm… Pháp luật có quy định chi tiết về quyền tố giác tội phạm, chi tiết căn cứ theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 về trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm như sau:
- Trong phạm vi trách nhiệm của mình, cơ quan nhà nước phải áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm, phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Cơ quan nhà nước phải thường xuyên kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; phát hiện kịp thời hành vi vi phạm pháp luật để xử lý và thông báo ngay cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mọi hành vi phạm tội xảy ra trong cơ quan và trong lĩnh vực quản lý của mình; kiến nghị và gửi tài liệu có liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xem xét, khởi tố đối với người thực hiện hành vi phạm tội.
Thủ trưởng cơ quan nhà nước phải chịu trách nhiệm về việc không thông báo hoặc cung cấp thông tin sai sự thật về hành vi phạm tội xảy ra trong cơ quan và trong lĩnh vực quản lý của mình cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát.
- Tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác, báo tin về tội phạm; tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm.
- Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm tạo điều kiện để cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm.
- Cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm thực hiện yêu cầu và tạo điều kiện để cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ.
- Cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước có trách nhiệm phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc phát hiện và xử lý tội phạm. Khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm thì phải chuyển ngay các tài liệu, đồ vật có liên quan và kiến nghị Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xem xét, khởi tố vụ án hình sự.
- Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ.
Theo quy định đó, trách nhiệm phòng ngừa tội phạm, trong đó có phát hiện, tố giác tội phạm, báo tin về tội phạm là nghĩa vụ của toàn dân. Như vậy, ai cũng có quyền tố giác tội phạm nhằm thực hiện đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
2. Cơ quan nào có thẩm quyền tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm?
Căn cứ tại khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC quy định về cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm bao gồm:
- Cơ quan điều tra;
- Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
- Viện kiểm sát các cấp;
- Các cơ quan, tổ chức quy định tại điểm b khoản 2 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 gồm: Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an, Trạm Công an; Tòa án các cấp; Cơ quan báo chí và các cơ quan, tổ chức khác. ...
3. Quy định về việc tổ chức tiếp nhận đơn tố giác tội phạm như thế nào?
Thông tư liên tịch 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC đã quy định rõ về tổ chức nơi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố để đảm bảo việc này diễn ra nhanh chóng và hiệu quả.
Theo quy định, cơ quan điều tra phải tổ chức trực ban hình sự 24/24 giờ, và Viện kiểm sát các cấp cũng phải tổ chức trực nghiệp vụ 24/24 giờ để tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, kể cả khi tin báo về tội phạm đưa ra trên các phương tiện thông tin đại chúng. Để đảm bảo sự thuận tiện và dễ tiếp cận cho mọi người, địa điểm tiếp nhận tố giác, tin báo phải được đặt ở những nơi dễ nhận biết, có biển ghi tên cơ quan và thông báo rộng rãi.
Các cơ quan, tổ chức khác cũng phải phân công người tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm khi có trường hợp như vậy.
Các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, và cơ quan nào được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, khi nhận được tố giác, tin báo qua dịch vụ bưu chính, điện thoại hoặc qua phương tiện thông tin khác, phải ghi chi tiết thông tin này vào sổ tiếp nhận. Nếu người tố giác hoặc đại diện cơ quan, tổ chức tới đó trực tiếp để báo tin về tội phạm, thì cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận. Nếu cần thiết, việc tiếp nhận có thể được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.
Trong trường hợp người phạm tội đến tự thú hoặc đầu thú, cơ quan tiếp nhận tin báo và tố giác sẽ thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 152 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tổ chức nơi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo quy định trên là một bước quan trọng để đảm bảo công tác điều tra, truy tố và pháp lý diễn ra một cách hiệu quả, từ đó giúp bảo vệ quyền lợi của người dân và đảm bảo công lý trong xã hội.
4. Có được thưởng tiền khi cung cấp thông tin cho công an không?
Đối với việc phát hiện, tố giác hành vi vi phạm, căn cứ quy định tại Khoản 3 Điều 14 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 sửa đổi năm 2020 thì: Cá nhân, tổ chức có trách nhiệm phát hiện, tố cáo và đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính.
Đồng thời, theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 4 Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì: Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền. Tố giác, tin báo về tội phạm có thể bằng lời hoặc bằng văn bản.
Theo các quy định này, việc phát hiện, tố cáo, tố giác hành vi vi phạm pháp luật hành chính và hình sự là trách nhiệm của mọi công dân, do vậy, khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật, mọi người có nghĩa vụ tố cáo, tố giác với cơ quan có thẩm quyền.
Quy định pháp luật về chế độ khen thưởng:
Điều 62 Luật Tố cáo 2018 quy định: Người tố cáo trung thực, tích cực cộng tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý hành vi vi phạm pháp luật thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật
Tuy nhiên, quy định pháp luật này không nêu rõ việc khen thưởng được thực hiện cụ thể ra sao. Do vậy, pháp luật không quy định chi tiết về mức thưởng tiền khi cung cấp thông tin cho công an là bao nhiêu, việc này sẽ tùy tình hình thực tế, người thực hiện tố cáo từng vụ việc cụ thể sẽ được cơ quan có thẩm quyền xem xét, khen thưởng ở mức độ và hình thức phù hợp.
Tham khảo thêm nội dung bài viết: Mẫu đơn tố giác tội phạm cập nhật mới nhất năm 2023, Không tố giác tội phạm là gì? Hình phạt không tố giác tội phạm. Khi có thắc mắc, hãy liên hệ đến hotline 19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến email: lienhe@luatminhkhue.vn