1. Tìm hiểu quy định về cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân

Cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân là yếu tố quan trọng trong việc hình thành bộ máy nhà nước, tham gia hoạt động của các cơ quan nhà nước và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước cũng như nhân viên của các cơ quan nhà nước.

Hiến pháp năm 1992, được sửa đổi, bổ sung" năm 2001 quy định: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam" các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân".

Cơ sở dạy nghề được dùng để phân biệt cơ sở đào tạo nghề theo hợp đồng với các trường đào tạo nghề của Nhà nước theo chỉ tiêu thi, cử tuyển.

Tất cả các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế trong nước và có vốn đầu tư nước ngoài có nhu cầu, có đủ điều kiện, có đăng kí theo quy định của pháp luật đều được mở cơ sở dạy nghề.

Trong quá trình hoạt động, cơ sở dạy nghề phải thực hiện an toàn vệ sinh lao động và các thoả thuận khác với người học nghề. Cơ sở dạy nghề có

quyển thu học phí và phải nộp thuế theo quy định của pháp luật.

Pháp luật nghiêm cấm các tổ chức, cá nhân lợi dụng danh nghĩa dạy nghề để trục lợi, bóc lột sức lao động hoặc dụ dỗ, ép buộc người học nghề vào những hoạt động trái pháp luật.

2. Phân quyền, phân cấp - Hai cơ chế phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương

>> Xem thêm:  Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 số 77/2015/QH13

Phân quyền và phân cấp là hai cơ chế mà Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định nhằm phân định thẩm quyền dành cho các cấp chính quyền địa phương, tức là nhằm xác định phạm vi quyền hạn nào thuộc về chính quyền địa phương nào.

Ở các quốc gia phát triển, các lĩnh vực giao cho chính quyền địa phương thực hiện thường được xác định khá rõ ràng, chi tiết. Các lĩnh vực thường được giao là phát triển kinh tế, giáo dục, y tế, nhà ở công cộng, giao thông công cộng, quy hoạch địa phương, tiêu chuẩn nhà, bảo trợ xã hội, cơ sở văn hóa giải trí (công viên, khu vui chơi, nhà hát, thư viện, bảo tàng...), môi trường, cảnh sát trật tự, thu gom, xử lí rác thải, cấp nước sạch, thoát nước thải, sưởi ấm, dịch vụ xã hội, đường giao thông, phòng cháy chữa cháy, thu thuế, bảo vệ người tiêu dùng và các lĩnh vực khác liên quan tới đời sống người dân và cộng đồng... Tất nhiên mức độ giao, chủ thể được giao còn tùy thuộc vào đặc thù của lĩnh vực và đặc điểm của chính quyền địa phương được giao. Có những lĩnh vực có thể được giao hoàn toàn, ví dụ thu gom, xử lí rác thải, cơ sở văn hóa - giải trí, bảo trợ xã hội... song phần lớn lĩnh vực chỉ được giao một phần, ví dụ giáo dục, môi trường, y tế... Các lĩnh vực thường không được giao cho chính quyền địa phương là quốc phòng, an ninh quốc gia, di trú, xuất, nhập cảnh.

Ở Việt Nam nhìn chung chưa có sự phát triển tới mức cụ thể như vậy. Hiện vẫn còn thiếu các quy định về nội dung phân quyền hay phân cấp cụ thể trong từng lĩnh vực. Cơ chế phân quyền và phân cấp cho chính quyền địa phương mới chỉ dừng lại ở các quy định cơ bản về cách thức, ví dụ về chủ thể giao quyền, chủ thể nhận quyền, nội dung quyền được giao, cơ chế trách nhiệm và điều kiện được giao quyền. Cơ chế phân quyền, phân cấp vì vậy vẫn đang được áp dụng ở giai đoạn ban đầu và cần được quy định cụ thể hơn nữa trong tương lai.

3. Phân quyền cho chính quyền địa phương

Phân quyền cho chính quyền địa phương được quy định trực tiếp tại Điều 12 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 với các nội dung cơ bản sau:

- Về chủ thể phân quyền: Quốc hội là chủ thể duy nhất được phân quyền cho chính quyền địa phương. Quốc hội phân quyền thông qua các đạo luật. Như vậy, khi Quốc hội ban hành một đạo luật về quản lí nhà nước trong một lĩnh vực nào đó, ví dụ giáo dục, Quốc hội có thể xem xét chọn ra các lĩnh vực cụ thể trong đó để phân quyền cho một cấp chính quyền địa phương thực hiện. Sở dĩ chỉ Quốc hội mới có quyền phân quyền là bởi vì Việt Nam là quốc gia đơn nhất, quyền lực nhà nước tập trung toàn bộ ở cấp trung ương và Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Khi Quốc hội phân quyền thì cũng có thể nói đó là sự phân công thẩm quyền theo chiều dọc giữa cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và các cơ quan nhà nước do Nhân dân địa phương thành lập để thực hiện công việc nhà nước ở địa phương.

- Về chủ thể nhận phân quyền: Theo khoản 1 Điều 12, chủ thể nhận phân quyền của Quốc hội là một cấp chính quyền địa phương nào đó chứ không phải riêng biệt Hội đồng nhân dân hay ủy ban nhân dân. Khi phạm vi quyền hạn được phân quyền cho chính quyền địa phương thì cả Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân đều phải thực hiện theo phạm vi chức năng và thẩm quyền của mình. Luật tổ chức chính quyền địa phương không quy định việc phân quyền phải tuần tự từ chính quyền địa phương cấp tỉnh tới huyện, xã. Do vậy, tùy thuộc vào tính chất và phạm vi của quyền hạn và lĩnh vực cần phân quyền, Quốc hội có thể phân quyền trực tiếp cho một cấp chính quyền địa phương bất kì.

- Về nội dung của phân quyền: Điều 12 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 không quy định rõ lĩnh vực nào có thể được phân quyền và mức độ phân quyền. Do đó có thể hiểu về mặt pháp lý Quốc hội không bị hạn chế về nội dung và lĩnh vực muốn phân quyền cho chính quyền địa phương.

- Về cơ chế trách nhiệm: Khi một nội dung công việc đã được Quốc hội phân quyền cho chính quyền địa phương thì chính quyền địa phương được phân quyền chịu trách nhiệm đối với việc thực hiện công việc theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.1 Nếu nội dung công việc không thực hiện tốt thì chính quyền địa phương phải chịu trách nhiệm và cơ chế để bảo đảm trách nhiệm, tức là cơ chế giám sát, kiểm tra, chế tài được thực hiện ở địa phương. Các cơ chế này có thể thực hiện thông qua bầu cử hoặc giám sát của cơ quan dân cử tại địa phương. Ở đây có thể hiểu khi thực hiện quyền hạn được phân quyền thi chính quyền địa phương đang thực hiện chức năng “tự quản”. Cần lưu ý, chính quyền địa phương không chịu trách nhiệm trước các cơ quan nhà nước cấp trên song không có nghĩa chính quyền địa phương được miễn trừ mọi sự can thiệp của cơ quan cấp trên. Quốc hội có thể giao cho các cơ quan nhà nước cấp trên có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp trong việc thực hiện công việc được phân quyền. Sự thanh tra, kiểm tra này để bảo đảm chính quyền địa phương thực hiện công việc được phân quyền trong khuôn khổ của pháp luật (Khoản 2 Điệu 12 Luật tộ chức chính quyền địa phương năm 2015 và Khoản 3 Điều 12 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015)

>> Xem thêm:  Chính quyền địa phương là gì ? Chính quyền địa phương được quy định như thế nào ?

- Về điều kiện tiến hành phân quyền: Như đã đề cập, Luật tổ chức chính quyền địa phương không có hạn chế rõ ràng về nội dung công việc mà Quốc hội được phân quyền cho chính quyền địa phương. Điều kiện ràng buộc duy nhất là khi quy định về phân quyền Quốc hội chỉ có thể dùng vãn bản luật, không được dùng nghị quyết hay hình thức văn bản khác.

- Về vấn đề phân quyền tiếp: Phân quyền tiếp có nghĩa là liệu chính quyền địa phương nhận phân quyền có thể tiếp tục giao nội dung công việc được phân quyền cho một chủ thể khác thực hiện thay mình hay không. Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 không quy định cụ thể vấn đề này. Tuy nhiên, bởi vì Luật quy định rõ việc phân quyền phải được quy định trong các Luật nên có thể hiểu không ai khác ngoài Quốc hội được phân quyền một nội dung công việc nào đó cho chính quyền địa phương. Chính quyền địa phương đã được phân quyền phải trực tiếp thực hiện phạm vi công việc được phân quyền mà không được chuyển tiếp công việc đó cho chủ thể khác thực hiện.

Như vậy, qua các nội dung của phân quyền đề cập trên đây, có thể định nghĩa một cách khái quát phân quyền là việc Quốc hội bằng các đạo luật giao cho một cẩp chính quyền địa phương thực hiện một phạm vỉ công việc nhất định theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)