1. Cơ sở lý luận của việc quy định mặt khách quan là yếu tố cấu thành tội phạm

Khách quan là những gì tồn tại bên ngoài, không phụ thuộc vào ý thức, ý chí của con người. Pháp luật hình sự nói riêng và pháp luật nói chung chỉ điều chỉnh đối với những hành vi cụ thể của con người được thể hiện ra ngoài thế giới khách quan, không điều chỉnh những gì thuộc về ý nghĩ, tư tưởng của con người. Điều này rất đúng, phù hợp với quy luật. C. Mác đã nói: “...lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất”.  Pháp luật hình sự bảo vệ các quan hệ xã hội quan trọng nhất nhằm duy trì trật tự và sự ổn định xã hội. Các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ chỉ có thể bị xâm hại khi có một “lực lượng vật chất” tác động vào nó. Luân lý hay tôn giáo vì mục đích cải tạo con người theo một ý nghĩa cao siêu, thần thánh nên trừng phạt cả những ý nghĩ, tư tưởng bất lương, xấu xa. Pháp luật bảo vệ những trật tự xã hội và cải tạo con người với những thái độ cụ thể biểu hiện qua hành vi khách quan đối với xã hội. Những tư tưởng, ý nghĩ dự toán tồn tại trong ý thức của con người không có khả năng gây ra sự xáo trộn trật tự xã hội nên không cần phải điều chỉnh bằng pháp luật. Mặt khác, con người cũng không thể nào nhận biết được những gì diễn biến trong tư tưởng của người khác để điều chỉnh bằng pháp luật. Trong những trường hợp này, chỉ có thể điều chỉnh nhận thức của con người thông qua giáo dục nhằm định hướng cho nhận thức đó theo hướng tốt. Đứng ở góc độ khác, chúng ta có thể thấy hành vi của con người được thực hiện trong thế giới khách quan có các dấu hiệu bên ngoài và các dấu hiệu bên trong. Tội phạm cũng là một dạng của hành vi con người nên cũng được biểu hiện thông qua cơ chế đó. Tuy nhiên, để nghiên cứu những biểu hiện thuộc mặt khách quan (bên ngoài) của tội phạm một cách sâu sắc, toàn diện, khoa học Luật hình sự đã tách chúng ra khỏi những biểu hiện chủ quan (bên trong) thành một yếu tố tương đối độc lập. Và trong quy trình lập pháp, tội phạm cũng được các nhà làm luật mô tả với những biểu hiện của yếu tố khách quan một cách độc lập với tư cách là một trong những dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.  

2. Mặt khách quan của tội phạm theo lý luận Luật hình sự Việt nam hiện hành

Nghiên cứu Luật hình sự Việt nam hiện hành, khoa học Luật hình sự nêu ra các biểu hiện bên ngoài của tội phạm tạo thành mặt khách quan của tội phạm bao gồm:

- Hành vi nguy hiểm cho xã hội; - Hậu quả nguy hiểm cho xã hội; - Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả; - Các điều kiện bên ngoài khác của tội phạm (công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm...phạm tội). Bất cứ tội phạm nào khi được thực hiện cũng diễn ra và tồn tại các yếu tố ấy và tổng hợp các yếu tố đó tạo thành mặt khách quan của tội phạm. Như vậy, mặt khách quan của tội phạm là tổng hợp tất cả những biểu hiện của tội phạm diễn ra và tồn tại bên ngoài thế giới khách quan. Dĩ nhiên, không phải mọi trường hợp phạm tội, các biểu hiện này đều hiện diện trên thực tế. Vì vậy, các biểu hiện khách quan của tội phạm không phải lúc nào cũng được thể hiện trong cấu thành tội phạm mang tính bắt buộc. Có biểu hiện được thể hiện trong cấu thành tội phạm cơ bản của tất cả các tội phạm (hành vi nguy hiểm cho xã hội), có biểu hiện chỉ được phản ánh trong cấu thành tội phạm của một số tội phạm cụ thể hoặc trong cấu thành tội phạm tăng nặng, giảm nhẹ (hậu quả nguy hiểm cho xã hội), có biểu hiện đôi lúc được thể hiện như một tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ...Dù thế nào đi nữa, chúng ta cũng phải thấy rằng, mặt khách quan của tội phạm là một yếu tố của cấu thành tội phạm. Không có mặt khách quan thì không có tội phạm xảy ra dù có thể các mặt khác của tội phạm đã hội đủ. Chẳng hạn, một người trong suy nghĩ rất mong muốn một người khác chết và trên thực tế người đó đã chết. Tuy nhiên, người này chết không phải do bị giết mà do bệnh. Như vậy, không có tội phạm xảy ra trên thực trong trường hợp này.

3. Ý nghĩa mặt khách quan của tội phạm

 Hành vi khách quan với tư cách là một trong những biểu hiện quan trọng nhất của mặt khách quan của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Nó là cơ sở để xác định tội danh. Việc quy định tội phạm trong Bộ luật hình sự là dựa vào đặc điểm của hành vi khách quan để định cho nó là tên gọi gì. Do đó, chỉ cần chúng ta xác định được các đặc điểm của hành vi (phạm tội) thì có thể dễ dàng xác định hành vi đó phạm tội gì. Chẳng hạn, hành vi “dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng ngay tức khắc vũ lực chiếm đoạt tài sản...” thì đó là tội cướp tài sản (Điều 133 Bộ luật hình sự), hành vi “lén lút lấy tài sản của người khác” thì đã phạm tội trộm cắp tài sản (Điều 138 Bộ luật hình sự)...v.v… Mặt khách quan của tội phạm còn được thể hiện trong các cấu thành tội phạm tăng nặng, khi ấy mặt khách quan giữ vai trò là tình tiết định khung hình phạt. Ví dụ, hành vi “sử dụng vũ khí hoặc phương tiện, thủ đoạn nguy hiểm” là tình tiết có thể chuyển khung hình phạt từ khoản 1 sang khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự. Trong tất cả các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có nhiều biểu hiện thuộc mặt khách quan. Ví dụ, “phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không do mình tự gây ra”, “phạm tội nhưng chưa gây ra thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn”...là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Vì vậy, nghiên cứu những dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm còn có ý nghĩa trong việc đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, cơ sở để xác định mức độ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.

4.Ý nghĩa khách thể của tội phạm 

Với tính cách là các quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại (gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại), khách thể là một trong bốn yếu tố của cấu thành tội phạm nói chung và khách thể trực tiếp là một trong những dấu hiệu cấu thành của tội phạm cụ thể. Việc nghiên cứu khách thể có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn lập pháp và áp dụng pháp luật hình sự. Khách thể của tội phạm là cơ sở để đánh giá đúng đắn tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Khách thể càng quan trọng, ảnh hưởng càng lớn đến lợi ích chung của toàn xã hội cũng như lợi ích và sự tồn tại của Nhà nước thì tội phạm xâm hại khách thể đó càng nguy hiểm. Căn cứ vào đó, phần các tội phạm Bộ luật hình sự một mặt sắp xếp các tội phạm theo từng nhóm nhất định, mặt khác xếp các nhóm theo thứ tự của tính nguy hiểm của chúng. Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành đã căn cứ vào tính chất giống nhau của các khách thể mà xếp chúng thành từng nhóm tương ứng với các chương (có 14 chương trong phần các tội phạm Bộ luật hình sự hiện hành). Việc sắp xếp theo thứ tự trước sau cho chúng ta thấy rõ tính nguy hiểm của từng nhóm tội phạm, từ nhóm các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia đến nhóm tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người, các tội phạm xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân...Ngoài ra, nghiên cứu khách thể của tội phạm sẽ cho chúng ta thấy được nhiệm vụ và bản chất giai cấp của luật hình sự.

5. Đối tượng tác động của tội phạm 

Một số luật gia đã lẫn lộn giữa khách thể của tội phạm và đối tượng tác động của tội phạm. Điều này cũng dễ hiểu vì khách thể của tội phạm được hợp thành bởi ba yếu tố là (1) chủ thể của các quan hệ xã hội, (2) hoạt động của các chủ thể khi tham gia quan hệ xã hội hay trạng thái của chủ thể khi tham gia quan hệ xã hội, (3) các vật, hiện tượng của thế giới khách quan nhằm thoả mãn nhu cầu của con người. Quan hệ xã hội không thể tồn tại bên ngoài các bộ phận hợp thành nó, do vậy khi tội phạm xâm hại đến các bộ phận hợp thành các quan hệ xã hội (đối tượng của tội phạm) tức là đã xâm hại đến nó. Tuy nhiên, chúng ta không thể đồng nhất các bộ phận hợp thành quan hệ xã hội (khách thể) với quan hệ xã hội (khách thể). Như vậy, có thể hiểu, đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận hợp thành của khách thể của tội phạm mà chỉ có thông qua việc tác động đến nó tội phạm mới có thể xâm hại được đến các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ. Ví dụ: A gây thương tích B thì B là đối tượng tác động của tội phạm mà A gây ra và “tính mạng, sức khoẻ của con người” là khách thể của tội phạm “cố ý gây thương tích”. Tội phạm thông thường tác động đến các đối tượng sau: - Chủ thể của các quan hệ xã hội; - Nội dung của các quan hệ xã hội; - Đối tượng của các quan hệ xã hội. Bất cứ tội phạm nào cũng tác động và làm biến đổi tình trạng của đối tượng tác động. Sự làm biến đổi này là phương thức gây phương hại đến khách thể của tội phạm.

a. Con người với tư cách là chủ thể của các quan hệ xã hội có thể là đối tượng tác động của tội phạm Con người vừa là thực thể tự nhiên vừa là thực thể xã hội, là chủ thể của nhiều quan hệ xã hội, trong đó có những quan hệ xã hội chỉ có thể bị gây thiệt hại khi có sự biến đổi tình trạng bình thường của chính con người - quan hệ nhân thân. Ví dụ, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhân phẩm, danh dự... là khách thể đại diện cho những đối tượng bị tác động thuộc loại này. b. Nội dung của các quan hệ xã hội là quyền và nghĩa vụ của các chủ thể cũng có thể là đối tượng tác động của tội phạm Chủ thể khi tham gia vào các quan hệ xã hội là nhằm đạt tới những quyền và lợi ích nhất định đồng thời phải thực hiện những nghĩa vụ để đem lại quyền lợi cho các chủ thể khác được thể hiện thông qua hoạt động bình thường của các chủ thể. Tác động đến nội dung của các quan hệ xã hội là làm biến đổi tình trạng bình thường của các hoạt động của chủ thể. Ví dụ, hành vi đưa hối lộ (Điều 289) làm biến đổi xử sự của người có chức vụ, quyền hạn, hành vi trốn tránh nghĩa vụ quân sự (Điều 259) là hành vi làm mất tình trạng bình thường của chính mình... c. Đối tượng của các quan hệ xã hội (vật thể) có thể là đối tượng tác động của tội phạm Đối tượng của các quan hệ là vật thể, biểu hiện cụ thể của các quyền và lợi ích của các chủ thể. Tác động đến đối tượng các quan hệ là tác động đến các vật thể cụ thể tồn tại trong thế giới khách quan Ví dụ, quyền sở hữu là khách thể bị xâm hại khi tác động đến các đối tượng thuộc loại này. Tác động đến các đối tượng vật chất không phải lúc nào hành vi phạm tội cũng chỉ gây ra hậu quả tiêu cực đối với vật chất đó mà có khi tạo biến đổi tích cực. Chẳng hạn, hành vi trộm cắp tài sản, kẻ trộm thường không gây hư hỏng cho đối tượng mà muốn làm tăng giá trị của vật chất đó lên. Cần phân biệt đối tượng tác động với khái niệm công cụ, phương tiện phạm tội. Công cụ, phương tiện phạm tội là những đối tượng mà kẻ phạm tội dùng để tác động đến đối tượng phạm tội, gây thiệt hại cho khách thể. Đối tượng tác động trong nhiều trường hợp là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm cơ bản. Ví dụ, Điều 85 Bộ luật hình sự, đối tượng bắt buộc là cơ sở vật chất - kỹ thuật...Trường hợp này, đối tượng tác động có ý nghĩa đối với việc định tội. Khi đó, đối tượng tác động đóng vai trò như khách thể của tội phạm nhưng bản chất, chúng không phải là khách thể của tội phạm.

Luật Minh Khuê( sưu tầm và biên tập)