1. Khái quát về cơ sở pháp lý xác định thẩm quyền của trọng tài
Thẩm quyền của trọng tài trước tiên bắt nguồn từ cơ sở pháp lý rất quan trọng đó là sự thoả thuận của các bên tranh chấp. Không có thoả thuận trọng tài sẽ không hình thành thẩm quyền của trọng tài.
Nếu các bên đã thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài trong hợp đồng nhưng khi xảy ra tranh chấp các bên đưa ra Tòa án thì lúc này buộc Tòa án phải trả lại kiện điều này cũng được luật định tại điều 5, 6 Luật trọng tài năm 2010 như sau:
Khoản 1 Điều 5 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 quy định: "Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp." Điều 6 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 quy định thêm: "Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được."
Bên cạnh sự thỏa thuận của các bên tranh chấp, thẩm quyền của trọng tài còn được hình thành trên cơ sở điều ước quốc tế có liên quan. Mặc dù không tồn tại thỏa thuận trọng tài của các bên tranh chấp, nhưng trong điều ước quốc tế có liên quan đã quy định bắt buộc tranh chấp phải được giải quyết bằng hình thức trọng tài thì các bên phải đưa tranh chấp của họ ra trọng tài để giải quyết.
2. Hội đồng trọng tài
2.1. Cơ sở pháp lý xác định thẩm quyền
Khi các bên thiết lập một thỏa thuận trọng tài, điều đó có nghĩa là họ đã trao cho một Hội đồng trọng tài thẩm quyền giải quyết tranh chấp và đồng nghĩa rằng toà án quốc gia không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đó trừ khi thỏa thuận trọng tài vô hiệu, không thể thực hiện được hoặc bị hủy bỏ bởi chính các bên.
Thẩm quyền của Hội đồng trọng tài Khác với tòa án, hội đồng trọng tài không phải là tổ chức có tư cách pháp nhân. Hội đồng trọng tài được thành lập cho mỗi vụ việc chỉ hình thành sau khi quá trình lựa chọn trọng tài được thực hiện và được trao thẩm quyền giải quyết tranh chấp cụ thể mà các bên tin cậy giao phó. Thẩm quyền, quyền và nghĩa vụ của hội đồng trọng tài xuất phát từ sự thống nhất ý chí của các bên và dựa vào luật điều chỉnh thỏa thuận trọng tài, luật nơi giải quyết tranh chấp, và luật nơi công nhận và thi hành phán quyết trọng tài. Theo Redfern and Hunter trong cuốn Trọng tài quốc tế, Hội đồng Trọng tài có các quyền chung sau đây:
- Tiến hành tố tụng trọng tài một cách hợp lý;
- Quyết định luật áp dụng và địa điểm giải quyết tranh chấp; - Quyết định về ngôn ngữ của trọng tài; - Thu thập tài liệu, chứng cứ (document production);
- Yêu cầu người làm chứng;
- Xác nhận lời khai của người làm chứng;
- Kiểm tra các vấn đề của vụ tranh chấp;
- Chỉ định chuyên gia;
- Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
- Thu xếp đảm bảo tài chính cho chi phí trọng tài;
Điều II Công ước New York 1958 quy định:
Tòa án của một quốc gia thành viên, khi nhận được một đơn kiện về một vấn đề mà đối với vấn đề đó các bên đã có thoả thuận theo nội dung của điều này, sẽ theo yêu cầu của một bên, đưa các bên tới trọng tài, trừ khi tòa án thấy rằng thỏa thuận nói trên không có hiệu lực, không hiệu quả hoặc không thể thực hiện được
Luật Mẫu của UNCITRAL năm 2006 quy định tại Điều 8 như sau:
Toà án khi nhận được đơn kiện về một vấn đề tranh chấp thuộc đối tượng của một thỏa thuận trọng tài, sẽ đưa các bên tới trọng tài nếu một bên yêu cầu như vậy vào thời điểm không muộn hơn khi bên đó đệ trình bản tường trình đầu tiên của mình về nội dung của tranh chấp trừ khi toà án nhận định rằng thoả thuận đó là vô hiệu và không có hiệu lực, không có hiệu quả hoặc không có khả năng thực hiện.
2.2. Thẩm quyền của Hội đồng trọng tài
Như đã nói ở trên sau khi được thành lập thì thẩm quyền của Hội đồng trọng tài được xác định gồm:
- Xác định các vấn đề yêu cầu Hội đồng trọng tài giải quyết trong vụ kiện;
- Xem xét và quyết định về địa điểm giải quyết tranh chấp, ngôn ngữ trong tố tụng trọng tài, luật nội dung (substantive law) áp dụng cho giải quyết nội dung tranh chấp;
- Xác định thời hiệu khởi kiện, điều kiện khởi kiện, xác định tư cách của các bên;
- Giải quyết tranh chấp phù hợp với quy định của Quy tắc tố tụng trọng tài. Nếu không có quy định cụ thể trong Luật tố tụng trọng tài hay Quy tắc tố tụng của Trung tâm thì Hội đồng trọng tài sẽ quyết định về việc tiến hành tố tụng sau khi tham vấn các bên.
- Thiết lập một thời gian biểu cho tố tụng trọng tài, ấn định ra các thời hạn tố tụng cụ thể;
- Ban hành các yêu cầu về mặt tố tụng: yêu cầu về hình thức các văn bản, tài liệu trao đổi được đệ trình; các yêu cầu về hình thức, phương thức đánh giá và thu thập chứng cứ, lời khai của nhân chứng, ý kiến của chuyên gia; cách thức tiến hành phiên họp, yêu cầu đối với vấn đề biên dịch phiên dịch các tài liệu; Cách thức gửi tài liệu và thông báo cho các bên tranh chấp;
- Ban hành các quyết định về các vấn đề dưới dạng phán quyết một phần hoặc từng phần, quyết định về áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Việc xác định các vấn đề này sẽ tạo điều kiện cho tố tụng trọng tài diễn ra thuận lợi, phù hợp với Quy tắc tố tụng, giúp Hội đồng trọng tài tránh việc vượt quá thẩm quyền.
Ở Việt Nam Tại điều 43, 45, 46, 48, 49 Luật trọng tài thương mại năm 2010 quy định thẩm quyền của Hội đồng trọng tài
- Xem xét thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, thẩm quyền giải quyết vụ việc của Hội đồng Trọng tài
- Thẩm quyền xác minh sự việc của Hội đồng Trọng tài
- Thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài về việc triệu tập người làm chứng
3. Trung tâm trọng tài
3.1. Cơ sở pháp lý xác định thẩm quyền
Trung tâm trọng tài là tổ chức được thành lập nhằm đảm bảo và trợ giúp việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Mặc dù trung tâm trọng tài có chức năng quản lý, giám sát quá trình tố tụng trọng tài, nhưng trung tâm trọng tài không quyết định tranh chấp giữa các bên. Việc giải quyết tranh chấp là nhiệm vụ của hội đồng trọng tài đã được các bên lựa chọn cho tranh chấp cụ thể đó. Nhiệm vụ của trung tâm trọng tài là để hỗ trợ hội đồng trọng tài . Thẩm quyền của trung tâm trọng tài không chỉ xuất phát từ quy định của pháp luật, quy tắc và điều lệ của trung tâm trọng tài mà còn từ khi đơn khởi kiện được Trung tâm thụ lý. Trung tâm trọng tài có trách nhiệm thực hiện các chức năng như là xem xét về sự tồn tại của thỏa thuận trọng tài dựa trên những bằng chứng ban đầu trong hồ sơ khởi kiện (prima facie), hỗ trợ các bên lựa chọn, thay đổi trọng tài viên .
Ví dụ Điều 1 khoản 2, quy tắc ICC, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2012 quy định: “Tòa trọng tài không tự mình giải quyết tranh chấp. Nó quản lý việc giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài phù hợp với quy tắc trọng tài ICC. Tòa trọng tài chỉ là cơ quan được ủy quyền để quản lý việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài theo Quy tắc này, bao gồm cả việc kiểm tra và phê chuẩn phán quyết được ban hành phù hợp với quy tắc này” Trung tâm trọng tài quốc tế Singapore (SIAC) lại có chức năng “liên lạc với các trọng tài viên, các bên tranh chấp và các đại diện ủy quyền của họ, theo dõi lịch trình và thời hạn đê nộp các bản đệ trình, thu xếp cơ sở vật chất cho phiên họp và các vấn đề khác để tạo điều kiện cho việc tiến hành trọng tài diễn ra suôn sẻ.”
3.2. Thẩm quyền của mỗi trung tâm trọng tài
Thẩm quyền của mỗi trung tâm trọng tài, Hội đồng trọng tài tại mỗi trung tâm được quy định khác nhau do ảnh hưởng từ các yếu tố như xã hội, hoàn cảnh kinh tế và hệ thống pháp luật tại quốc gia nơi thành lập trung tâm trọng tài
Khi nảy sinh vấn đề về sự tồn tại của thỏa thuận trọng tài và thẩm quyền của trọng tài, Tổng thư ký Tòa trọng tài ICC có thể yêu cầu Tòa trọng tài do ICC thành lập quyết định liệu có tiếp tục tiến hành tố tụng trọng tài và phạm vi tố tụng trọng tài trong trường hợp đó. Tố tụng trọng tài sẽ được tiến hành nếu Tòa trọng tài ICC qua xem xét sơ bộ (prima facie) xác định có thỏa thuận trọng tài theo Quy tắc trọng tài ICC8 . Quy tắc ICC có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 quy định rõ hơn hai trường hợp thuộc thẩm quyền này của Tòa trọng tài ICC là khi có nhiều hơn hai bên tham gia tố tụng và khi có nhiều hơn một thỏa thuận trọng tài . Quy tắc trọng tài của HKIAC, JCAA, LCIA đều không yêu cầu Trung tâm trọng tài kiểm tra và chấp thuận phán quyết trước khi ban hành. Trong khi đó, theo quy tắc của ICC, trước khi kí vào phán quyết, Hội đồng trọng tài sẽ đệ trình bản dự thảo phán quyết cho Tòa trọng tài ICC. Tòa trọng tài có thể đưa ra một số sửa chữa về hình thức của phán quyết và cũng có thể lưu ý một số nội dung nhưng không làm ảnh hưởng đến tính độc lập của quyết định của Hội đồng trọng tài. Không một phán quyết nào được ban hành bởi Hội đồng trọng tài nếu không có sự chấp thuận của Tòa trọng tài về mặt hình thức. Đây là một trong các cơ chế của ICC nhằm tránh các sai sót về hình thức phán quyết dân tới rủi ro hủy phán quyết của ICC. Quy tắc trọng tài của SIAC cũng có quy định tương tự
Thẩm quyền trung tâm trọng tài ở VN:
- Xây dựng điều lệ và quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài phù hợp với những quy định của Luật TTTM 2010