1. Ai là người giám hộ của người chưa thành niên?

Việc giám hộ người chưa thành niên được quy định cụ thể trong Điều 47 của Bộ luật Dân sự 2015, chỉ liệt kê những trường hợp đặc biệt mà người chưa thành niên cần được giám hộ. Cụ thể, những đối tượng sau đây được xem xét để được giám hộ:

- Người chưa thành niên không còn cha mẹ hoặc không thể xác định được cha mẹ.

- Người chưa thành niên có cha mẹ, nhưng cha mẹ thuộc vào một trong những trường hợp sau:

+ Cha mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự.

+ Cha mẹ đều gặp khó khăn trong việc nhận thức và quản lý hành vi.

+ Cha mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

+ Cha mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền với con.

+ Cha mẹ đều không có khả năng chăm sóc, giáo dục con và yêu cầu người giám hộ.

Theo Điều 136 của Bộ luật Dân sự, cha mẹ là người đại diện pháp lý của người chưa thành niên. Do đó, chỉ trong những tình huống đặc biệt nêu trên mới cần đến người giám hộ.

Người giám hộ trong các trường hợp nêu trên được quy định tại Điều 52 của Bộ luật Dân sự, theo thứ tự ưu tiên sau:

- Anh hoặc chị ruột cả.

- Nếu anh hoặc chị ruột cả không đủ điều kiện, người anh hoặc chị ruột kế tiếp trong gia đình có thể được bổ nhiệm, trừ khi có sự đồng ý của người ruột khác.

- Nếu không có anh hoặc chị ruột, người giám hộ có thể là ông bà nội, ông bà ngoại, hoặc bất kỳ người nào trong số họ có thể được bổ nhiệm dưới sự đồng ý của họ.

- Nếu không có bất kỳ người nào trong gia đình nhận trách nhiệm, người giám hộ có thể là bác, chú, cậu, cô hoặc dì ruột.

Người giám hộ cần đáp ứng các điều kiện sau:

- Có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.

- Có đạo đức tốt và có khả năng thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người giám hộ.

- Không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc có án tích về các tội phạm liên quan đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác.

- Không bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền với người chưa thành niên.

2. Có thể từ chối trở thành người giám hộ của trẻ em không?

Nghĩa vụ của người giám hộ cho người dưới 18 tuổi được quy định tại Điều 55, Điều 56 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

- Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ chưa đủ mười lăm tuổi

+ Chăm sóc, giáo dục người được giám hộ.

+ Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy định người chưa đủ mười lăm tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

+ Quản lý tài sản của người được giám hộ.

+ Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ

- Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi

+ Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy định người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

+ Quản lý tài sản của người được giám hộ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

+ Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ

Quyền của người giám hộ cho trẻ em được quy định tại Điều 58 Bộ luật Dân sự 2015 bao gồm các quyền sau:

- Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ;

- Được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ;

- Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.

Như vậy theo quy định về người giám hộ đương nhiên và quy định về điều kiện để trở thành người giám hộ thì nếu người giám hộ không đủ điều kiện để thực hiện quyền và nghĩa vụ nêu trên thì có thể chuyển cho người giám hộ đương nhiên khác.

3. Tòa án chỉ định người giám hộ khi có tranh chấp giữa những người giám hộ

Theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Dân sự năm 2015, đối với người chưa thành niên không còn cha mẹ hoặc không xác định được cha mẹ, hoặc có cha mẹ nhưng cha mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong việc nhận thức, làm chủ hành vi, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con, hoặc cha mẹ không có khả năng chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ, thì người giám hộ đương nhiên của họ được xác định theo thứ tự sau đây:

Anh ruột hoặc chị ruột cả sẽ là người giám hộ. Nếu anh ruột hoặc chị ruột cả không đủ điều kiện làm người giám hộ, thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo trong gia đình sẽ được bổ nhiệm, trừ khi có sự đồng ý của người anh hoặc chị ruột khác.

Nếu không có người giám hộ quy định tại khoản trên, thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại sẽ được bổ nhiệm làm người giám hộ, hoặc những người này có thể thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ.

Trong trường hợp không có người giám hộ theo các quy định trước đó, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột sẽ được bổ nhiệm làm người giám hộ.

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 53 của Bộ luật Dân sự, đối với người mất năng lực hành vi dân sự không thuộc các trường hợp đã quy định, người giám hộ sẽ được xác định như sau:

Trong trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự, thì chồng sẽ là người giám hộ, và ngược lại.

Nếu cả cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một trong hai cha mẹ mất năng lực, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ, thì người con cả sẽ là người giám hộ. Nếu người con cả không đủ điều kiện, người con tiếp theo có điều kiện sẽ được bổ nhiệm làm người giám hộ.

Trong trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự không có vợ, chồng, con, hoặc có nhưng họ không đủ điều kiện làm người giám hộ, thì cha hoặc mẹ sẽ là người giám hộ.

Khi có sự tranh chấp về người giám hộ giữa những người được xác định đương nhiên theo quy định tại Điều 52 và 53 của Bộ luật Dân sự 2015, Tòa án sẽ chỉ định người giám hộ. Đối với người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi trở lên, khi Tòa án chỉ định người giám hộ cho họ, sẽ xem xét nguyện vọng của người này.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trong trường hợp người chưa thành niên được quy định tại điểm a hoặc b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Dân sự năm 2015, hoặc người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên, thì Ủy ban nhân dân cấp xã tại nơi cư trú của người được giám hộ phải đảm bảo việc cử người giám hộ.

Nơi cư trú của người được giám hộ, theo quy định tại khoản 1 Điều 42 của Bộ luật Dân sự năm 2015, là nơi cư trú của người giám hộ. Người giám hộ, như quy định tại khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Dân sự năm 2015, có thể là cá nhân hoặc tổ chức pháp nhân. Nơi cư trú của cá nhân, theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều 40 của Bộ luật Dân sự năm 2015, là nơi mà cá nhân đó thường xuyên sinh sống hoặc đang sinh sống.

Do đó, khi có sự tranh chấp về việc cử người giám hộ giữa Ủy ban nhân dân cấp xã và nơi cư trú của người được giám hộ, Tòa án sẽ phải chỉ định người giám hộ cho người chưa thành niên được quy định tại điểm a hoặc b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Dân sự năm 2015, hoặc người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên.

Xem thêm: Con có thể là người giám hộ cho cha, mẹ không?

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Có thể từ chối trở thành người giám hộ của trẻ em không? của Bộ Y tế mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!