1. Con nhỏ đứng tên tài sản khi cha mẹ ly hôn ?

Xin chào Công ty Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề muốn được giải đáp: Anh em và chị dâu có hai cháu gái, 12 tuổi, 10 tuổi, đang làm thủ tục ly dị, phân chia tài sản thế nào, gia đình em muốn ủy quyền cho hai cháu đứng tên tất cả tài sản anh chị đang hiện có. Nhưng chị dâu không đồng ý đòi phân chia, trong khi nhà anh chị đang ở do mẹ em mua đất và cất nhà cho anh chị ở, hộ khẩu đứng tên anh.
Vậy anh em làm thế nào để tất cả tài sản hiện có cho hai cháu, trong khi hai cháu theo mẹ?
Xin cám ơn!
Người gửi: Minh Quang

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Về tài sản của vợ, chồng:

Căn cứ quy định tại Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì:

" Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

Căn cứ quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì:

" Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

2. Về việc đứng tên trong sổ hộ khẩu:

Theo quy định tại Điều 34 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì:

" Điều 34. Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung

1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này."

Như vậy, trước hết bạn cần xác định tài sản nào là tài sản riêng, tài sản nào là tài sản chung. Theo đó, việc định đoạt tài sản riêng sẽ do chủ tài sản định đoạt theo quy định tại Điều 44 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

" Điều 44. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng

1. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản.

3. Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.

4. Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ."

3. Về việc phân chia tài sản khi ly hôn:

Việc chia tài sản khi ly hôn được thực hiện theo nguyên tắc giải quyết tài sản khi ly hôn quy định tại Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

" Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này"

Như vậy, để sang tên sổ đỏ cho hai cháu bạn cần chứng minh phần tài sản muốn chuyển nhượng là tài sản riêng của bạn hoặc là tài sản chung nếu được sự đồng ý của vợ bạn.

4. Thủ tục sang tên sổ đỏ được thực hiện như sau:

Căn cứ quy định tại Điều 152 Nghị định số 181/2014/NĐ-CP chi tiết thi hành luật đất đai năm 2013 thì:

" Điều 152. Trình tự, thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất

1. Bên được tặng cho quyền sử dụng đất nộp một (01) bộ hồ sơ gồm có:

a) Văn bản cam kết tặng cho hoặc hợp đồng tặng cho hoặc quyết định tặng cho quyền sử dụng đất của tổ chức;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai (nếu có).

2. Việc tặng cho quyền sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Trong thời hạn không quá bốn (04) ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ, làm trích sao hồ sơ địa chính; gửi số liệu địa chính đến cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính (nếu có); chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp hoặc thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với trường hợp phải cấp mới giấy chứng nhận;

b) Trong thời hạn không quá ba (03) ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo nghĩa vụ tài chính, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hoặc Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn nơi có đất có trách nhiệm thông báo cho bên được tặng cho quyền sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính;

c) Trong thời hạn không quá ba (03) ngày làm việc kể từ ngày bên được tặng cho thực hiện xong nghĩa vụ tài chính, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hoặc Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn có trách nhiệm trao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất."

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Khi nào được thay đổi người nuôi con sau khi ly hôn ?

Chào Luật sư, năm 2017 tôi và chồng ly hôn, Tòa án ra bản án quyết định giao con trai tôi cho chồng nuôi dưỡng và tôi có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu 2 triệu đồng/ tháng. Suốt thời gian từ đó cho đến nay tôi vẫn cấp dưỡng cho cháu đầy đủ với mức 2 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên, vài tháng gần đây chồng cũ của tôi không có lý do gì mà tự ý buộc tôi phải cấp dưỡng cho cháu 5 triệu đồng/tháng; nếu không anh ta không cho tôi gặp con. Mức cấp dưỡng 5 triệu đồng/tháng là quá cao và tôi không có đủ điều kiện kinh tế để thực hiện được, vì thế anh ta không cho tôi gặp con nữa.
Qua tìm hiểu, tôi được biết anh ta cờ bạc, nợ nần chồng chất; không có công ăn việc làm. hiện đang thuê nhà ở khu công nhân, nhà ở xập xệ, tồi tàn; con tôi không được ăn uống, học hành đến nơi đến chốn ?
Mong Luật sư tư vấn cho tôi bây giờ tôi phải làm gì để được gặp con và giành quyền nuôi con. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Khi nào được thay đổi người nuôi con sau khi ly hôn?

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, về việc chồng bạn không cho bạn gặp con

Điều 92 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

“Sau khi ly hôn, vợ-chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”.

Ngoài ra, Điều 82 Luật HN&GĐ 2014 cũng quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau:

“1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó”.

Như vậy, sau khi ly hôn, bạn dù không trực tiếp nuôi con sau ly hôn, vẫn có quyền (đồng thời là nghĩa vụ) trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con cái cho đến khi thành niên, thể hiện qua quyền thăm nom con. Việc chồng cũ của bạn ngăn cản bạn thăm nuôi con là hành vi vi phạm quy định về quyền của cha,mẹ con sau khi ly hôn. Hành vi này của anh ta có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo nghị định 167/2013/NĐ-CP với mức hình phạt như sau:

Điều 53. Hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đi với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của tòa án; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau.

Căn cứ vào quy định trên, bạn có quyền trình báo với cơ quan công an xã/phường hoặc UBND xã, phường nơi chồng bạn cư trú để họ tiến hành xử phạt vi phạm hành chính và yêu cầu chồng cũ của bạn tôn trọng quyền thăm nom, chăm sóc con của bạn. Nếu chồng cũ của bạn vẫn tiếp tục vi phạm thì bạn có quyền làm đơn gửi lên Cơ quan thi hành án cấp quận, huyện để bảo vệ quyền lợi của mình.

Thứ hai, về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Căn cứ theo khoản 1, 2, Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

“1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con”.

Căn cứ vào những gì bạn trình bày, bạn có quyền làm đơn gửi lên Tòa án yêu cầu thay đổi trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Tuy nhiên bạn phải chứng minh được việc chồng bạn không đảm bảo quyền lợi được mọi mặt cho con cũng như không đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nữa. Mặt khác, bạn phải chứng minh được bạn là người có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, bao gồm:

- Điều kiện về vật chất: Bạn có thu nhập hàng tháng, có việc làm, chỗ ở để đảm bảo việc ăn, ở, sinh hoạt, học tập… cho con

- Điều kiện về tinh thần: Bạn có tư cách đạo đức tốt, có thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục, yêu thương con….

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Sau khi ly hôn mới sinh con thì ai được quyền nuôi dưỡng con ?

Xin chào Công ty Luật Minh Khuê, em có yêu cầu sau mong công ty giải đáp giúp em: Em mang bầu được 04 tháng thì kết hôn. Sau một tháng thì vợ chồng em ly hôn. Theo thoả thuận thì vợ chồng không có con chung. Giờ em sinh con, chồng em muốn giành quyền nuôi con thì có được không ạ? Và em có quyền không cho chồng em đi lại với con không?
Mong sớm nhận được tư vấn của công ty, em xin cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, bạn mang thai được 04 tháng mới kết hôn, sau đó được 01 tháng thì vợ chồng bạn ly hôn. Do đó, cần xác định mối quan hệ cha, mẹ con theo Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

"Điều 88. Xác định cha, mẹ

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định."

Như vậy, con của hai bạn được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ ngày vợ chồng bạn ly hôn, vì vậy, cháu vẫn được xem là con chung của hai vợ chồng bạn trong thời kỳ hôn nhân. Theo đó, chồng bạn có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha đối với con theo quy định tại Điều 69 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

"1. Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.

2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

3. Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.

4. Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội."

Như vậy, trong trường hợp này, sau khi bạn sinh con, chồng bạn hoàn toàn có quyền giành quyền trực tiếp nuôi con, chăm sóc, giáo dục con sau khi hai vợ chồng bạn ly hôn. Tuy nhiên, tại thời điểm vợ chồng bạn ly hôn thì con chưa sinh ra, sau đó, bạn sinh con thì cháu sẽ đương nhiên giao cho bạn nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con. Chồng bạn muốn thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn phải đáp ứng một trong hai điều kiện theo Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đồng thời nộp đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con sau ly hôn. Cụ thể như sau:

Trường hợp thứ nhất, bạn đồng ý chấp nhận giao con cho chồng bạn nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn để đảm bảo quyền và lợi ích tốt nhất cho con.

Trường hợp thứ hai, bạn không muốn chồng bạn nuôi dưỡng con nhưng chồng bạn chứng minh được anh ấy có đủ điều kiện nuôi dưỡng con tốt hơn bạn, còn bạn không có điều kiện, không có khả năng nuôi dưỡng con kể cả đáp ứng được mức tối thiểu nhất cho việc ăn uống, học tập, vui chơi và giải trí cho con.

Trong trường hợp, chồng cũ của bạn không được Tòa án yêu cầu chấp nhận thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con thì bạn cũng không có quyền hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con của chồng bạn căn cứ theo quy định tại Điều 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

"Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con."

Trong trường hợp, bạn hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của chồng cũ của bạn thì bạn có thể sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa cha và con theo Điều 53 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình quy định về hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau:

"Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của tòa án; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau."

Bạn chỉ có thể được phép hạn chế quyền của chồng cũ của bạn đối với con khi chồng bạn có hành vi thuộc trường hợp quy định tại Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

"1. Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:

a) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;

b) Phá tán tài sản của con;

c) Có lối sống đồi trụy;

d) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

2. Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 86 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này."

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

4. Thỏa thuận về con đang mang thai khi vợ chồng ly hôn ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Em có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Hiện em đang làm thủ tục ly hôn. Khi không muốn chồng chịu trách nhiệm gì về việc em đang mang thai. Vậy Em có cần ghi rõ vào đơn xin ly hôn không? Vì chồng em bảo không muốn sau này đột nhiên em bắt chịu trách nhiệm khi đã ly hôn. Xin luật sư cho em câu giải đáp ?

Em xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: T.H

>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình : 1900.6162

Trả lời:

Nếu như bạn không yêu cầu trách nhiệm của người chồng đối với con, bạn có thể không ghi vào phần yêu cầu tòa án giải quyết. Tuy nhiên, việc có trách nhiệm với con là quyền cũng như nghĩa vụ của người chồng, vì vậy bạn có thể yêu cầu vấn đề này, điều này hoàn toàn chính đáng và hợp pháp.

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định rất rõ trách nhiệm này tại các điều 81, điều 82, điều 83

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

5. Một số vấn đề pháp lý về thủ tục xin cấp phép xây dựng nhà ở và các công trình xây dựng ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Trường hợp dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng Khu công nghiệp, được Thủ tướng Chính Phủ chấp thuận chủ trương cho phép thành lập và đồng ý để UBND tỉnh phê duyệt dự án đầu tư xây dựng kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN. Dự án đã có quyết định của UBND v/v thành lập KCN và phê duyệt dự án. Các hạng mục công trình gồm: Hệ thống đường giao thông trong KCN, Hệ thống cấp điện, cấp nước, san nền, thông tin liên lạc, bảo vệ môi trường. Có phê duyệt quy hoạch 1/2000 => Việc thực hiện công trình có phải xin giấy phép xây dựng hay không?

Một số vấn đề pháp lý về thủ tục xin cấp phép xây dựng nhà ở và các công trình xây dựng ?

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi, chúng tôi xin tư vấn câu hỏi của bạn như sau:

Căn cứ vào khoản 3 Nghị định 64/2012/NĐ-CP về cấp giấy phép xây dựngcó quy định:

Điều 3. Giấy phép xây dựng

1. Trước khi khởi công xây dựng công trình, chủ đầu tư phải có giấy phép xây dựng, trừ trường hợp xây dựng các công trình sau đây:

a) Công trình bí mật nhà nước, công trình theo lệnh khẩn cấp, công trình tạm phục vụ thi công xây dựng công trình chính và các công trình khác theo quy định của Chính phủ được miễn giấy phép xây dựng;

b) Công trình xây dựng theo tuyến không đi qua đô thị nhưng phù hợp với quy hoạch xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

c) Công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng được Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp quyết định đầu tư;

d) Công trình sửa chữa, cải tạo, lắp đặt thiết bị bên trong công trình không làm thay đổi kiến trúc các mặt ngoài, kết cấu chịu lực, công năng sử dụng và an toàn công trình;

đ) Công trình hạ tầng kỹ thuật chỉ yêu cầu phải lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật và nhà ở riêng lẻ tại vùng sâu, vùng xa thuộc khu vực chưa có quy hoạch điểm dân cư nông thôn (quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới) được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

Vậy với trường hợp của anh , anh thực hiện dự án xây dựng khu công nghiệp , tuy dự án của anh đã được thủ tướng chính phủ phê duyệt nhưng về bản chất, dự án này không phải là dự án do Thủ tướng chính phủ quyết định đầu tư bằng nguồn ngân sách nhà nước theo điểm c khoản 1 điều 3 nêu trên vậy với công trình này , anh vẫn phải làm thủ tục xin cấp phép xây dựng .

Thưa luật sư, Cho cháu hỏi: trước đây gia đình cháu có mua bán nhà đất với 1 gia đình có hàng rào quy mô sẵn có(mua nhà ở ạ) giấy tờ 2 bên tự kí kết với nhau trên giấy tờ ghi rõ là bán cho nhà cháu 200 mét vuông nhưng trên thực tế hàng rào nằm trên phần đất của người hàng xóm 10cm do quan hệ của nhà bán cho nhà cháu khá tốt với hàng xóm cho nên khi xây hàng rào họ có xí hoá coi như cho không tính toán gì.nhưng khi nhà cháu mua nhà sau 1 năm có xây căn nhà mới lên được 10 năm thì họ lại kiện nhà cháu là lấn chiếm 10 phân đất vào phần đất của gia đình họ , khi cán bộ địa chính xuống đó họ xác định là việc lấn 10cm vào móng nhà không phải vì lý do nhà cháu lân chiếm mà vì do họ hiến đất làm ngõ , tuy nhiên họ không đồng ý với cách đo này mà phảo đo kéo hắt về nhà cháu (vì thế nên mới vào 10 phân ở móng) các chú cho cháu hỏi việc này cần giải quyết như thế nào ạ và cho cháu hỏi thêm.căn nhà chính của nhà cháu hiện đã xây được 10 năm.nhưng còn để lại sân thượng đằng sau giờ nhà cháu xây thêm 2 căn phòng trên tầng thượng ấy và công trình phụ hoàn toàn tách biệt với nhà ở.trên tầng trên của công trình phụ có xây thêm 1 nhà vệ sinh nữa thì cho cháu hỏi có cần phải xin giấy phép xây dựng cho 2 căn nhà đã xây thêm không ạ ?Cháu xin cảm ơn !

Về việc giải quyết phần đất lấn chiếm

Về mặt pháp lý , bất cứ giao dịch nào liiên quan đến việc mua bán , chuyển nhượng đất đai cũng cần được lập thành văn bản có công chứng , chứng thực và trong một thời hạn nhất định , hai bên phải làm thủ tục sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất . Với trường hợp của bạn , ranh giới 10 cm đất này trên giấy tờ vẫn thuộc sở hữu của người hàng xóm , việc người đó đồng ý cho gia đình bạn xây hàng rào lán sang phần đất của họ tuy không được lập thành văn bản nhưng trên thực tế có sự cho phép của người này , vậy tuy người này không cho gia đình bạn quyền sở hữu đất nhưng đã thừa nhận quyền sử dụng đất của bạn trên phần đất này . Ở đây , có thể giải quyết theo 2 hướng , một là hai gia đình có thể thương lượng với nhau về việc gia đình bạn sẽ mua lại phần đất 10cm đó và giữ nguyên hàng rào, hai là bạn sẽ phá dỡ hàng rào và phục hồi lại nguyên trạng mảnh đất cho người đó theo đúng trích lục bản đồ địa chính .

Về việc xin cấp phép xây dựng :

Việc sửa chữa nhà ở cũng cần được cấp phép xây dựng , bạn có thể tham khảo khoản 1 điều 3 nghị định 64/2012 về giấy phép xây dựng nêu trên xem đất của gia đình mình có thuộc một trong các trường hợp được miễn xin cấp phép xây dựng nêu trên hay không , nếu công trình của bạn thuộc 1 trong các trường hợp nêu trên thì bạn không cần phải làm thủ tục xin cấp phép xây dựng , nếu bạn không thuộc diện được miễn xin phép xây dựng thì ở đây việc xây dựng phải được xin phép trước khi thi công , bạn xây dựng công trình xong thì không thể xin cấp phép được nữa . Với trường hợp này bạn có thể bị xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực này theo quy định tại nghị định số 121/2013/NĐ-CP QUY ĐỊNH VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG , KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN; KHAI THÁC, SẢN XUẤT, KINH DOANH VẬT LIỆU XÂY DỰNG; QUẢN LÝ CÔNG TRÌNH HẠ TẦNG KỸ THUẬT; QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN NHÀ VÀ CÔNG SỞ. Cụ thể :

Theo quy định tại khoản 6 Điều 13 Nghị định 121/2013/NĐ-CP, chủ đầu tư, tổ chức thi công xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng (mà theo quy định phải có) thì có thể bị phạt tiền 3-5 triệu đồng đối với trường hợp xây dựng nhà ở riêng lẻ ở nông thôn. Phạt tiền 15-20 triệu đồng với trường hợp xây dựng nhà ở riêng lẻ ở đô thị. Phạt tiềntừ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với xây dựng công trình thuộc trường hợp phải lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình hoặc lập dự án đầu tư xây dựng công trình.

Theo khoản 4 Điều 12 Luật Xây 2014 dựng quy định, xây dựng công trình sai quy hoạch, vi phạm chỉ giới, cốt xây dựng; không có giấy phép xây dựng đối với công trình theo quy định phải có giấy phép hoặc xây dựng công trình không đúng với giấy phép xây dựng được cấp là hành vi bị cấm trong hoạt động xây dựng.

Hành vi xây dựng không có giấy phép của bạn cũng co thể trái với quy định của pháp luật xây dựng nên theo quy định tại khoản 2 Điều 118 Luật Xây dựng thì công trình xây dựng không có giấy phép phải bị phá dỡ toàn bộ hoặc phần vi phạm theo quy định.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?