Luật sư cho em hỏi vợ em có nhắn tin và xưng hô là vợ chồng với chồng người khác?

Luật sư cho em hỏi vợ em có nhắn tin và xưng hô là vợ chồng với chồng người khác và vợ chồng họ đã cãi nhau dẫn đến việc chồng cô ấy tự tử như vậy vợ em có phạm tội gì không?

-Lò Văn Oai

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho công ty Luật Minh Khuê. Với câu hỏi này của bạn chúng tôi xin trả lời bạn như sau:

- Trong những tội phạm xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình thì theo phân tích câu hỏi mà bạn gửi về thì tôi đánh giá bạn đang muốn hỏi vợ bạn đang có bị phạm tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng không?

Theo căn cứ tại Điều 147 Bộ luật hình sự năm 1999 (Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng như sau:

"Điều 147. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

Cũng theo hướng dẫn tại điểm 3 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC của Bộ tư pháp, Bộ công an, Tóa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn các quy định về tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình của Bộ luật hình sự năm 1999:

"3. Về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 147 BLHS) 

3.1. Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó... 

3.2. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: 

a) Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng gây hậu quả nghiêm trọng. 

Hậu quả nghiêm trọng có thể là làm cho gia đình của một hoặc cả hai bên tan vỡ dẫn đến ly hôn, vợ hoặc chồng, con vì thế mà tự sát, v.v... 

b) Người vi phạm chế độ một vợ, một chồng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 

3.3. Trong trường hợp đã có quyết định của Tòa án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo khoản 2 Điều 147 BLHS mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội không chấp hành án theo Điều 304 BLHS."

Theo như thông tin bạn cung cấp thì chưa đủ căn cứ đề kết luận người vợ của bạn có phạm tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng vì với hành vi nhắn tin xưng hô như vợ chồng với chồng người khác theo hướng dẫn pháp lý đã cũng cấp ở trên thì không được coi là "chung sống như vợ chồng" chỉ khi vợ bạn có hành vi "chung sống như vợ chồng" với chồng người khác mà gây hậu quả nghiêm trọng (người chồng kia tự sát) thì mới có thể cấu hành tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng. 

- Hiện tại Bộ luật hình sự năm 2015 đang trong giai đoạn được sửa đổi và chưa có hiệu lực, theo quy định tại Điều 182 bộ luật hình sự năm 2015 này thì quy định về tội vi phạm chế độ một vợ một chồng không có sự thay đổi về hành vi và có sự ghi nhận những hậu quả nghiêm trọng là tình tiết định khung hình phạt của tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng.

"Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó."

*Xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng

Nếu hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng mà chưa đủ yếu tố để cấu thành tội phạm thì theo quy định tại văn bản hợp nhất Nghị định số 462/VBHN-BTP của Bộ Tư Pháp về xử phạt vi phạm hành trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã thì xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng như sau:

"Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

đ) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha mẹ nuôi với con nuôi;

e) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Lợi dụng việc ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân;

b) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người có cùng dòng máu về trực hệ."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc gì về ý kiến tư vấn xin hãy liên hệ với tổng đài tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình 24/7 gọi:  1900.6162 để được tư vấn trực tiếp hoặc bạn có thể liên hệ với gmail : Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email

>> Xem thêm:  Làm thế nào để thay đổi quan điểm sống của chồng tôi ?

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình - Công ty luật Minh Khuê 

>> Xem thêm:  "10 điều không nên" để giữ gìn hạnh phúc vợ chồng