1. Con chưa sinh, thai nhi còn trong bụng mẹ có được hưởng thừa kế?

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì cá nhân có quyền hưởng di sản thừa kế theo di chúc và theo pháp luật. Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền hưởng di sản thừa kế. Tuy nhiên, căn cứ vào quy định tại Điều 613 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không phải là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Theo như quy định nêu trên, các cá nhân tại thời điểm mở thừa kế phải thỏa mãn các điều kiện sau đây thì mới được quyền hưởng thừa kế:

- Là người còn sống;

- Là người đã được sinh ra;

- Là người còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản thừa kế chết.

Bên cạnh đó, căn cứ theo Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì con sinh ra trong thời kỳ hôn  hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân. Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng

Như vậy, đối với trường hợp con chưa sinh ra, thai nhi còn trong bụng mẹ nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản thừa kế chết thì vẫn được hưởng di sản thừa kế như những người thừa kế cùng hàng thừa kế khác. Và khi phân chia di sản thừa kế thì thai nhi đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì sẽ được để lại một phần di sản bằng với phần di sản mà những người thừa kế khác được nhận.

Nếu thai nhi đã thành thai đó còn sống sau khi được sinh ra thì sẽ có quyền được hưởng phần di sản thừa kế đó. Còn nếu như thai nhi đã thành thai đó chết trước khi được sinh ra thì phần di sản đó sẽ được chia cho những người thừa kế khác.

2. Thai nhi đã thành thai được hưởng di sản thừa kế trong những trường hợp nào?

Khi đáp ứng được những điều kiện trên thì con sinh ra sẽ được hưởng thừa kế trong các trường hợp sau đây

Trường hợp thứ nhất, người chết để lại di chúc và di chúc đó hợp pháp, việc định đoạt và phân chia di sản  để lại sẽ tuân theo ý chí được thể hiện trong di chúc.

Trong trường hợp di chúc có đề cập về việc hưởng thừa kế của thai nhi thì phải thực hiện theo ý chí của người chết để lại, nếu di chúc không đề cập đến thì sau khi sinh ra sẽ áp dụng theo quy định của pháp luật về người thừa kế không phụ thuộc vào di chúc.

Tuy nhiên, theo Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc bao gồm con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động. Những người thừa kế này sẽ được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật. 

Do đó, trong trường hợp di chúc của người chết không để lại phần di sản cho con chưa sinh ra khi cháu được sinh ra hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn 2/3 suất của một người thừa kế thì cháu bé vẫn có quyền hưởng di sản tử người chết để lại bằng 2/3 một suất của một người thừa kế theo pháp luật.

Trường hợp thứ hai, người chết không để lại di chúc, việc định đoạt, phân chia di sản thừa kế sẽ tuân theo quy định của pháp luật về việc thừa kế không có di chúc, cụ thể như sau:

Trường hợp người để lại di sản chết không để lại di chúc thì di sản sẽ được chia theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.

Bên cạnh đó, tại Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định về người được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật. Khi đó, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải để lại một phần di sản bằng phần của những người thừa kế khác.

- Nếu thai nhi đó còn sống sau khi sinh ra thì sẽ được hưởng phần di sản thừa kế này.

- Nếu người đó chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng phần di sản thừa kế này.

Ngoài ra, nếu cha chết thì con là thai nhi đã thành thai sẽ được hưởng thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015. Cụ thể, rường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống. Tức là, nếu như thai nhi đã thành thai còn sống sau khi sinh thì sẽ được hưởng phần di sản mà người cha được hưởng nếu còn sống theo trường hợp thừa kế thế vị. Còn nếu thai nhi đã thành thai nhưng chết trước khi sinh ra thì phần di sản thừa kế của người cha sẽ được chia cho những người được hưởng thừa kế khác theo quy định tại Điều 651 Bộ luật này.

Như vậy, thai nhi thành thai trong bụng mẹ trước khi người để lại di sản chết và sinh ra sau khi người để lại di sản chết và còn sống tại thời điểm phân chia di sản thì cũng được hưởng thừa kế; và phần di sản của đứa trẻ này cũng bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng. Nhưng khác biệt về độ tuổi so với các chủ thể khác, đối tượng này do chưa thành niên (chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ) nên phần di sản thừa kế của đứa trẻ được hưởng sẽ do người giám hộ đương nhiên (hoặc được cử ra) quản lý cho đến khi cháu bé thành niên (có đầy đủ năng lực hành vi dân sự).

Pháp luật đã quy định rõ ràng việc thừa kế di sản của người chết để lại, đặc biệt đối với những người mang huyết thông trong gia đình. Thai nhi của người đã mất đương nhiên được hưởng di sản thừa kế của người bố để lại, nó phù hợp với những truyền thống của con người việt nam. Nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho thai nhi sau này được sinh ra, được hưởng những quyền lợi của mình để phát triển một cách toàn diện.

3. Di sản là hiện vật đã được chia nhưng xuất hiện người thừa kế mới thì giải quyết như thế nào?

Tại Điều 662 Bộ luật Dân sự  2015 quy định phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế như sau:

Trường hợp đã phân chia di sản mà xuất hiện người thừa kế mới thì không thực hiện việc phân chia lại di sản bằng hiện vật, nhưng những người thừa kế đã nhận di sản phải thanh toán cho người thừa kế mới một khoản tiền tương ứng với phần di sản của người đó tại thời điểm chia thừa kế theo tỷ lệ tương ứng với phần di sản đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Trường hợp đã phân chia di sản mà có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế thì người đó phải trả lại di sản hoặc thanh toán một khoản tiền tương đương với giá trị di sản được hưởng tại thời điểm chia thừa kế cho những người thừa kế, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Như vậy, khi di sản là hiện vật đã được chia nhưng lại xuất hiện người thừa kế mới thì sẽ không thực hiện việc phân chia lại di sản nhưng những người thừa kế đã nhận di sản phải thanh toán cho người thừa kế mới một khoản tiền tương ứng với phần di sản người đó được nhận.

Quý khách có thể tham khảo thêm bài viết về: Hàng thừa kế thứ 2 gồm những ai? Ví dụ về hàng thừa kế thứ 2 của Luật Minh Khuê.

Mọi vướng mắc chưa rõ hoặc có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: Tư vấn pháp luật qua email để được giải đáp. Hoặc quý khách có thể gọi trực tiếp cho Luật sư Lê Kiều Hoa qua số điện thoại 0982626162 để được giải đáp. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.