Từ khi quy định được ra đời, thắc mắc nhiều nhất mà Luật Minh Khuê nhận được trong vấn đề này đó chính là khi có tranh chấp thì con sinh ra sẽ là con của ai. Nhằm giải đáp thắc mắc cho Quý khách hàng, trong bài viết dưới đây Luật Minh Khuê xin đi giải đáp sâu về vấn đề này.

Vấn đề vô sinh ở Việt Nam đang ngày càng trở nên đáng báo động. Nhằm góp phần đảm bảo quyền làm cha, làm mẹ của các cặp vợ chồng vô sinh, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Trước khi chế định này được thông qua, trong thực tế, việc mang thai hộ đã diễn ra trong xã hội với nhu cầu ngày càng lớn, kéo theo rất nhiều rủi ro do không có được sự bảo hộ của pháp luật. Bởi thế, quy định mang thai hộ được thông qua là quy định mang đậm tính nhân văn. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu rõ bản chất trong vấn đề này, có rất nhiều tranh chấp nảy sinh xung quanh vấn đề mang thai hộ. 

 

1. Mang thai hộ là gì?

Dù mang thai hộ đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới và đã được nhiều quốc gia pháp điển hóa, nhưng phải đến gần đây, khái niệm "mang thai hộ" mới được biết đến ở Việt Nam. Tuy nhiên, khái niệm này trước đây vẫn bị đa số người dân đánh đồng với "đẻ thuê, đẻ mướn" mà hầu hết được hiểu với nghĩa, người chồng có quan hệ tình dục trực tiếp với người phụ nữ được "đẻ thuê", cho đến khi người phụ nữ đó mang thai và sinh con. Trong trường hợp này, đứa trẻ được sinh ra từ tinh trùng của người chồng kết hợp với noãn của người phụ nữ "đẻ thuê". Hiện nay, với sự phát triển của xã hội, khái niệm mang thai hộ đã được thu hẹp lại và được hiểu một cách đúng đắn, phù hợp với hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới.

Theo điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 khái niệm mang thai hộ được hiểu theo 2 hình thức như sau: 

- Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo: Là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.

Mục đích của mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là bên mang thai hộ tự nguyện, không vì lợi ích vật chất hoặc một lợi ích nào khác. Hoạt động mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải tuân thủ theo điều kiện mà pháp luật quy định đối với bên mang thai hộ và người nhờ mang thai hộ.

- Mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác. 

Mục đích của hoạt động này chỉ vì các lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác và không có bất cứ các điều kiện nào đối với bên mang thai hộ cũng như người nhờ mang thai hộ mà chỉ căn cứ trên cơ sở nhu cầu của người nhờ mang thai hộ. Chính vì thế, mang thai hộ vì mục đích thương mại là một hoạt động mang tính rủi ro rất cao đối với các bên tham gia vào quan hệ này.

 

2. Điều kiện về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được quy định tại Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và được hướng dẫn chi tiết tại Nghị định số 10/2015/NĐ-CP quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Quy định này tạo cơ sở để việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

 

2.1 Đối với bên nhờ mang thai hộ

Khoản 1 Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, cụ thể là đối với bên nhờ mang thai hộ như sau:

Thứ nhất, bên nhờ mang thai hộ phải là vợ chồng hợp pháp: Bên nhờ mang thai hộ phải đảm bảo điều kiện quan trọng, họ phải là cặp vợ chồng hợp pháp. Quy định này cũng thể hiện sự "bảo hộ" của nhà nước đối với quan hệ hôn nhân. Mặt khác, hôn nhân là cơ sở để hình thành gia đình. Do vậy, việc quy định bên nhờ mang thai hộ phải là cặp vợ chồng hợp pháp còn có ý nghĩa trong việc giúp cho gia đình thực hiện chức năng cơ bản và đảm bảo quyền lợi cho đứa trẻ sinh ra và được sống trong môi trường gia đình. Quy định nhằm đảm bảo các ràng buộc pháp lý giữa các bên trong quá trình thực hiện mang thai hộ cũng như đối với đứa trẻ trong tương lai. 

Thứ hai, có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dung kỹ thuật hỗ trợ sinh sản: Điều kiện tiếp theo cần phải xem xét đó chính là người vợ được tổ chức y tế xác nhận không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Quy định này được đặt ra nhằm tránh việc nhờ người khác mang thai hộ một cách bừa bãi, hạn chế việc lợi dụng mang thai hộ trong khi người phụ nữ vấn còn khả năng làm mẹ, tránh tình trạng thương mại hóa mang thai hộ. Theo đó, cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ phải là cặp vợ chồng vô sinh và dù đã áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nhưng người vợ vẫn không thể mang thai và sinh con. 

Thứ ba, vợ chồng đang không có con chung: trong trường hợp nhờ mang thại hộ mà thai bị hỏng, bị sẩy, đứa trẻ sinh ra bị chết,... thì sẽ tiếp tục được nhờ mang thai hộ. Trường hợp cặp vợ chồng đã có con chung nhưng con đã chết và đáp ứng đủ các điều kiện khác theo quy định về quyền nhờ mang thai hộ thì vẫn có quyền nhờ mang thai hộ. Trường hợp cặp vợ chồng đã có một con mà con mắc bệnh Down, các bệnh liên quan đến thần kinh, bệnh hiểm nghèo, hoặc bị dị tật thì không có quyền nhờ mang thai hộ.

Thứ tư, vợ chồng nhờ mang thai hộ đã được tư vấn về pháp lý, y tế, tâm lý: Quy định này nhằm đảm bảo cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ có thể hiểu rõ mọi mặt của vấn đề này, tránh xảy ra sai sót cũng như tranh chấp trong tương lai do thiếu hiểu biết, đảm bảo hiệu quả trong quá trình mang thai hộ. Việc tư vấn sẽ được cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được phép thực hiện kỹ thuật mang thai hộ tiến hành theo quy định tại Chương V: "Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo", từ Điều 15 đến Điều 18 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP. Thông qua hoạt động này, các cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ sẽ hiểu được các phương pháp, biện pháp y tế thực hiện hoạt động mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, quyền, nghĩa vụ và các hậu quả pháp lý của vấn đề mang thai hộ, chuẩn bị tâm lý sẵn sàng và ổn định trong quá trình nhờ mang thai hộ.

 

2.2 Đối với bên mang thai hộ

- Bên mang thai hộ phải là người thân thích cùng hàng  của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ: Quy định này nhằm hạn chế tối đa tình trạng mang thai hộ vì mục đích thương mại. Khoản 7 Điều 2 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP quy định người thân thích bao gồm: anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì của họ; anh rể, chị dâu, em dâu cùng người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha với họ.

- Bên mang thai hộ phải đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần: Việc yêu cầu người phụ nữ đã từng sinh con là cần thiết bởi mang thai và sinh con là một quá trình đặc biệt. Việc đã từng sinh con sẽ giúp người phụ nữ chuẩn bị về mặt tâm lý cũng như có kinh nghiệm, kỹ năng trong vấn đề chăm sóc bản thân và thai nhi nhằm đảm bảo thực hiện việc mang thai hộ. Bên cạnh đó, việc đã từng mang thai và sinh con sẽ là một minh chứng xác thực về việc có khả năng mang thai của bên mang thai hộ. Điều này sẽ giúp giảm thiểu thời gian, công sức và tiền bạc cho cả hai bên trong việc mang thai.

Ngoài ra, quy định "chỉ được mang thai hộ một lần" cũng được đặt ra đối với bên mang thai hộ. Điều đó có nghĩa, bên mang thai hộ chỉ được mang thai hộ một lần, bất kế việc mang thai hộ thực hiện thành công hay không. Mặt khác, do quy định này không áp dụng đối với cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ, vì vậy, nếu việc mang thai hộ đã được tiến hành nhưng cuối cùng không thành công thì cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ có thể nhờ người khác đủ điều kiện theo quy định của pháp luật để tiếp tục thực hiện việc mang thai hộ.

- Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của chồng.

- Bên mang thai hộ phải ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ: Hiện nay, pháp luật chưa có quy định thế nào là độ tuổi phù hợp. Có thể suy đoán độ tuổi phù hợp là độ tuổi sinh đẻ nói chung theo các nghiên cứu khoa học cũng như quan niệm của xã hội. Theo nghiên cứu của các hiệp hội sản phụ khoa trên thế giới, thông thường, độ tuổi sinh sản tốt nhất của người phụ nữ là khoảng tứ 20 đến 35 tuổi, lúc này cơ thể người phụ nữ đã phát triền đầy đủ về tâm lý cho việc làm mẹ.

- Bên mang thai hộ đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý: Cũng giống như bên nhờ mang thai hộ, bên mang thai hộ phải được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý nhằm đem lại những hiểu biết tổng quan nhất về vấn đề mang thai hộ. Thông qua hoạt động này, bên mang thai hộ có thể biết được các vấn đề về sức khỏe, sự an toàn, các bất trắc, rủi ro có thể gặp phải trong quá trình mang thai hộ. Từ đó, họ có thể cân nhắc có nên tiến hành mang thai hộ hay không và hậu quả của vấn đề mang thai hộ. Đây cũng là cơ sở cho việc thực hiện quyền và nghĩa cụ của các bên cũng như vấn đề giải quyết tranh chấp nếu có.

 

3. Con sinh ra nhờ mang thai hộ là con của ai?

Hiện nay, pháp luật chỉ cho phép việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo còn mọi hành vi mang thai hộ vì mục đích thương mại đều bị nghiêm cấm.

Theo Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như sau:

"Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra"

Theo quy định của pháp luật, mang thai hộ được thực hiện bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Bằng việc lấy tinh trung của người chồng kết hợp với trứng của người vợ và tiến hành thụ tinh trong ống nghiệm để tạo thành phôi. Sau 2 - 5 ngày, phôi sẽ được cấy vào buồng tử cung của người mang thai hộ. Vì thé, đứa trẻ sau khi sinh ra hoàn toàn mang dòng máu của cặp vợ chồng nhờ người mang thai hộ.

Mặc dụ, người mang thại hộ không phải là mẹ của đứa trẻ, nhưng về mặt dân sự và trên giấy tờ chứng sinh là quan hệ mẹ con nhưng lại không được pháp luật thừa nhận. Để tránh những rắc tối xảy ra, các cặp vợ chồng hãy thực hiện dầy đủ những vấn đề liên quan đến pháp luật, thực hiện các cam kết để đảm bảo em bé và người mang thai hộ được pháp luật bảo vệ, không gặp phải tình trạng người mang thai hộ cố tình làm khó hay đòi con sau này. 

Theo Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như sau:

"Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra"

Theo đó, từ thời điểm con được sinh ra thì đứa bé là con chung của vợ chồng người nhờ mang thai hộ mà không phải con của người mang thai hộ.

 

4. Quyền và nghĩa vụ của người mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Quyền, nghĩa vụ của bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được quy định tại Điều 97 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cụ thể:

- Bên mang thai hộ, chồng của bên mang thai hộ có quyền, nghĩa vụ như cha mẹ trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản và chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ; phải giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ.

Bên mang thai hộ và chồng của người đó chỉ có quyền, nghĩa vụ như cha mẹ trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe sinh sản, chăm sóc nuôi dưỡng con. Bên cạnh đó, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng đã quy định rất chi tiết về thời điểm chấm dứt quyền, nghĩa vụ chăm sóc con như cha mẹ của cặp vợ chồng được nhờ mang thai hộ là từ thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ. Đây là một quy định hợp lý, đảm bảo tính nhân văn. Quy định này nhằm đảm bảo trách nhiệm của bên mang thai hộ và chồng của bên mang thai hộ trong thời gian mang thai, đảm bảo sức khỏe và quyền lợi của đứa trẻ, tránh những trường hợp bên nhờ mang thai hộ không quan tâm, chăm sóc vì cho đó không phải là con đẻ của mình sẽ dẫn đến những hậu quả không tốt cho đứa trẻ, hoặc ngược lại bên nhờ mang thai hộ ngăn cản việc chăm sóc sức khỏe cho đứa trẻ từ phía người được nhờ mang thai dù người này có đủ các điều kiện tốt nhất để chăm sóc cho trẻ sơ sinh như nguồn sữa mẹ.

- Bên mang thai hộ phải tuân thủ quy định về thăm khám, các quy trình sàng lọc để phát hiện, điều trị các bất thường, dị tật của bào thai theo quy định của Bộ y tế. Theo đó, việc sàng lọc, chẩn đoán và xử lí trước sinh đối với phụ nữ mang thai được thực hiện trên tinh thần tự nguyện, trừ trường hợp bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Tức là, việc sàng lọc, chẩn đoán và xử lý trước sinh đối với bên mang thai hộ là nghĩa vụ mà bên mang thai hộ buộc phải thực hiện. Hoạt động này nhằm hạn chế tới mức thấp nhất việc trẻ sinh ra có nguy cơ mắc các bênh Down, hội chứng Ewards, dị tật ống thần kinh và các dị tật bẩm sinh khác, y học hiện đại đã áp dụng có hiệu quả việc sàng lọc trước sinh bằng cách sử dụng các biện pháp thăm dò đặc hiệu trong thời gian người mẹ mang thai để chẩn đoán, xác định các trường hợp bệnh do rối loạn di truyền nhiễm sắc thể ở thai nhi.

- Bên mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ. Việc sinh con do mang thai hộ không tính vào số con theo chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình.

- Bên mang thai hộ có quyền yêu cầu bên nhờ mang thai hộ thực hiện việc hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe sinh sản. Trong trường hợp vì lý do tính mạng, sức khỏe của mình hoặc sự phát triển của thai nhi, bên mang thai hộ có quyền quyết định về số lượng bào thai, việc tiếp tục hay không tiếp tục mang thai phù hợp với quy định của pháp luật về chăm sóc sức khỏe sinh sản và sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

 

5. Thủ tục làm giấy khai sinh cho con sinh ra do mang thai hộ

Căn cứ vào Điều 15 Luật Hộ tịch 2015 quy định như sau:

"Điều 15. Đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ

1. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ đang cư trú có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ.

2. Trường hợp chưa xác định được cha thì khi đăng ký khai sinh, họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của con được xác định theo họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của mẹ; phần ghi về cha trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ để trống.

3. Nếu vào thời điểm dăng ký khai sinh người cha yêu cầu làm thủ tục nhận con theo quy định tại Khoản 1 Điều 25 của Luật Hộ tịch thì Ủy ban nhân dân kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh; nội dung đăng ký khai sinh được xác định theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 của Nghị định này.

4. Trường hợp trẻ chưa xác định được mẹ mà khi đăng ký khai sinh cha yêu cầu làm thủ tục nhận con thì giải quyết theo quy định tại Khoản 3 Điều này; phần khai về mẹ trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ em để trống.

5. Thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ không thuộc diện bị bỏ rơi, chưa xác định được cha và mẹ được thực hiện như quy định tại Khoản 3 Điều 14 của Nghị định này; trong Sổ hộ tịch ghi rõ "Trẻ chưa xác định được cha, mẹ".

Thủ tục đăng ký khai sinh cho con do mang thai hộ cũng giống thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ em bình thường. Nhưng vì dược sinh ra nhờ mang thai hộ nên cần lưu ý khi xin cấp giấy chứng sinh. Để được cấp giấy chứng sinh, theo quy định tại Thông tư 34/2015/TT-BYT cần phải nộp một trong các giấy tờ cho cơ sở y tế nơi trẻ được sinh ra:

- Bản xác nhận về việc sinh con bằng kỹ thuật mang thai hộ;

- Bản thỏa thuận về việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (bản sao chứng thực hoặc bản chụp kèm bản chính để đối chiếu).

Các bước để làm thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ do mang thai hộ:

Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ đăng ký khai sinh nhờ mang thai hộ; người đăng ký cần chuẩn bị những giấy tờ sau: 

- Tờ khai sinh theo mẫu quy định

- Giấy chứng sinh bản gốc. Trường hợp không có giấy chứng sinh phải có văn bản xác nhận về việc sinh của người làm chứng. Nếu không có người làm chứng thì phải có giấy cam đoan về việc sinh con.

- Văn bản xác nhận của cơ sở y tế đã thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cho việc mang thai hộ. Bản xác nhận về việc sinh con bằng kỹ thuật mang thai hộ. Bản thỏa thuận về việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

- Đồng thời, người đi đăng ký khai sinh xuất trình bản chính một trong các giấy tờ tùy thân còn giá trị sử dụng để chứng minh về nhân thân.

Bước 2: Nộp hồ sơ tại cơ quan có thẩm quyền

Sau khi chuẩn bị các giấy tờ cần thiết; cha hoặc mẹ của trẻ được sinh nhờ mang thai hộ nộp hồ sơ đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ.

Bước 3: Tiếp nhận hồ sơ đăng ký khai sinh và cấp Giấy khai sinh

Sau khi nhận và kiểm tra các giấy tờ trên; nếu thấy thông tin khai sinh đầy đủ và phù hợp; công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung khai sinh vào Sổ hộ tịch; trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký vào bản chính Giấy khai sinh. Công chức tư pháp - hộ tịch và người đi đăng ký khai sinh cùng ký tên vào Sổ hộ tịch.

 

6. Mức phạt hành vi mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

* Xử phạt hành chính:

Theo quy định tại điều 60 Nghị định 82/2020/NĐ-CP, hành vi mang thai hộ vì mục đích thương mại sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Ngoài ra còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm trên. 

* Truy cứu trách nhiệm hình sự:

Điều 187 Bộ Luật Hình sự năm 2015 quy định về tội tổ chức mang thai hộ về mục đích thương mại như sau:

"Điều 187. Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại

1. Người nào tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đối với 02 người trở lên;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Lợi dụng danh nghĩa của cơ quan, tổ chức;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm"

Như vậy, việc truy cứu hình sự được áp dụng với người tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại chứ không áp dụng với người mang thai hộ.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Khuê về vấn đề "Con sinh ra nhờ mang thai hộ là con của ai? Tại sao?". Trường hợp bạn còn vướng mắc cần tư vấn trực tiếp hãy liên hệ qua số hotline của tổng đài là  1900.6162 để nhận được sự tư vấn từ các chuyên viên, Luật sư có bề dày kinh nghiệm về tất cả các lĩnh vực. Luật Minh Khuê luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc và khó khăn mà bạn gặp phải. Rất mong nhận được sự hợp tác từ quý khách hàng. Trân trọng!