1. Khái niệm con tin

Con tin là một hay nhiều người bị một tổ chức hoặc cá nhân bắt giữ để gây áp lực với chính người đó, người thân của họ hoặc đối với chính quyền... buộc phải thực hiện những yêu sách nào đó.

Bản chất sự việc ở đây là những kẻ rắp tâm thực hiện việc bắt cóc con tin đã nhận ra được mối liên hệ giữa đối tượng bị bắt giữ và đối tượng chúng nhằm gây áp lực (đây là đối tượng chính). Mục đích của chúng là những lợi ích vật chất hoặc việc làm mà đối tượng chính mang tới, nhưng nếu tấn công trực diện vào đối tượng chính thì không chắc đã đạt được mục đích mà lại bị tổn thất cho nên chúng đã tấn công vào những đối tượng khác có sự phòng bị tương đối lỏng lẻo, sơ hở.

2. Khái niệm tội bắt cóc con tin

Tội bắt cóc con tin là hành vi bắt giữ, vận chuyển trái phép một người trái với ý muốn của họ nhằm mục đích đe dọa, cưỡng ép nhà nước, tổ chức hay công dân nhằm đáp ứng một yêu cầu được đặt ra.

Theo công ước quốc tế về chống bắt cóc con tin năm 1979, ” người nào bắt giữ hoặc giam cầm và đe doạ giết, làm bị thương hoặc tiếp tục giam cầm người khác (sau đây gọi là “con tin”) nhằm mục đích cưỡng ép bên thứ ba, cụ thể là một quốc gia, một tổ chức quốc tế liên chính phủ, một pháp nhân hoặc một thể nhân hoặc một nhóm người phải làm hoặc không làm một việc nào đó như một điều kiện rõ ràng hoặc ngầm hiểu để phóng thích con tin, thì bị coi là phạm tội bắt con tin.”

Người nào: – Thực hiện chưa đạt hành vi bắt con tin, hoặc Tham gia với tư cách là người đồng phạm trong việc thực hiện hoặc thực hiện chưa đạt hành vi bắt con tin cũng sẽ bị coi là phạm tội theo Công ước này.

Quốc gia thành viên phải trừng trị bằng các hình phạt thích đáng các tội, có tính đến tính chất nghiêm trọng của tội đó.

Kế thừa tinh thần Công ước quốc tế về chống bắt cóc con tin, Bộ luật hình sự nước ta mặc dù không đưa ra khái niệm về Tội bắt cóc con tin nhưng cũng đưa ra mô tả cấu thành tội phạm tội bắt cóc con tin. Có thể hiểu tội bắt cóc con tin là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đủ độ tuổi luật định thực hiện hành vi cố ý bắt, giữ hoặc giam người khác làm con tin nhằm cưỡng ép một quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân làm hoặc không làm một việc như một điều kiện để thả con tin.

3. Quy định về tội bắt cóc con tin

Điều 301 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định như sau:

“1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người khác làm con tin nhằm cưỡng ép một quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân làm hoặc không làm một việc như một điều kiện để thả con tin, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 113 và Điều 299 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 04 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người đủ 70 tuổi trở lên;

d) Đối với người đang thi hành công vụ;

đ) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

4. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm.

5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

4. Cấu thành tội phạm tội bắt cóc con tin

Các dấu hiệu pháp lý của tội bắt cóc con tin sau đây:

* Dấu hiệu khách thể của tội phạm.

Tội bắt cóc con tin xâm phạm đồng thời trật tự xã hội, an toàn xã hội và xâm phạm các quyền nhân thân của con người, đó là quyền được bảo đảm về tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể.

* Dấu hiệu khách quan của tội phạm.

Hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm là: bắt, giữ hoặc giam người khác làm con tin nhằm cưỡng ép một quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân làm hoặc không làm một việc như một điều kiện để thả con tin, trừ trường hợp là hành vi phạm tội quy định tại Điều 113 (Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản) và Điều 299 (Tội khủng bố) của BLHS năm 2015.

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc đối với tội phạm này. Tội phạm hoàn thành khi hành vi phạm tội được thực hiện.

* Dấu hiệu chủ quan của tội phạm.

Lỗi của người thực hiện tội bắt cóc con tin là lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra.

Mục đích phạm tội là buộc bên thứ ba làm hòa không làm một việc như một điều kiện để thả con tin (thông thường là yêu cầu tiền chuộc hoặc mục đích chính trị). Đây là dấu hiệu bắt buộc để định tội và là cơ sở để phân biệt giữa tội phạm này với một số tội phạm khác có hành vi tương tự.

* Dấu hiệu chủ thể của tội phạm.

Chủ thể của tội phạm này là người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên.

Hình phạt áp dụng:

– Khung hình phạt cơ bản: bị phạt tù từ 01 năm đến 04 năm.

– Khung hình phạt tăng nặng thứ nhất: bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm, khi có các tình tiết tăng nặng sau:

+ Có tổ chức: Là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm và đòi hỏi phải có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Khi đã xác định được trường hợp cụ thể đó là phạm tội có tổ chức, thì phải áp dụng tình tiết tăng nặng này đối với tất cả những người cùng thực hiện tội phạm (người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức). Mức độ tăng nặng phụ thuộc vào quy mô tổ chức, vai trò của từng người trong việc tham gia vụ án.

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn: Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội là người có chức vụ đã lợi dụng vị trí công tác, lợi dụng quyền hạn trong khi thực hiện công vụ để phạm tội.

+ Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người đủ 70 tuổi trở lên:

+ Đối với người đang thi hành công vụ:

+ Gây hậu quả nghiêm trọng: Hậu quả phải do hành vi phạm tội gây ra. Hậu quả có thể là thiệt hại về vật chất và có thể là thiệt hại phi vật chất.

– Khung hình phạt tăng nặng thứ hai: bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

– Khung hình phạt tăng nặng thứ ba: bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm.

Hậu quả phải do hành vi phạm tội gây ra. Hậu quả có thể là thiệt hại về vật chất và có thể là thiệt hại phi vật chất.

Tùy từng hậu quả do từng loại tội phạm gây ra mà xác định trường hợp nào gây hậu quả nghiêm trọng, trường hợp nào gây hậu quả rất nghiêm trọng và trường hợp nào gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

Tội bắt cóc con tin không có hình phạt bổ sung, người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Thực tế tội phạm này ở nước ta rất ít, các vụ án bị truy tố chủ yếu là tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Dưới đây là một bản án “hiếm” về tội bắt cóc con tin.

5. Cấu thành tội phạm của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Mặt khách quan của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Hành vi khách quan

Có hành vi bắt cóc người khác: Bắt cóc là hành vi giữ người trái pháp luật. Thông thường, hành vi bắt người làm con tin được thực hiện ám muội và đưa người bị bắt đến một nơi nào đó. Sau đó, người phạm tội tìm cách thông báo cho người thân của nạn nhân biết. Theo đó, đối tượng yêu cầu người thân của họ phải nộp một số tiền thì mới thả người. Bằng không, người bị bắt cóc sẽ bị nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm. Hành vi giữ người trái pháp luật được thực hiên bằng nhiều thủ đoạn khác nhau như: dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc bằng những thủ đoạn khác như cho uống thuốc ngủ, thuốc mê, xịt ê-te, lừa dối. Qua đó, đối tượng bắt được người làm con tin. Thủ đoạn bắt cóc không phải dấu hiệu đặc trưng của hành vi phạm tội (không có ý nghĩa trong việc định tội). Tuy nhiên, hành vi bắt cóc người làm con tin lại là đặc trưng cơ bản của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Bởi vì, bắt người làm con tin chính là một thủ đoạn nhằm chiếm đoạt tài sản.
Ngoài hành vi bắt cóc người làm con tin, người phạm tội còn có hành vi đe doạ người khác (cơ quan, tổ chức hoặc người thân của con tin). Cụ thể, nếu không giao nộp tiền hoặc tài sản thì con tin sẽ bị giết, bị đánh đập, hành hạ… Hành vi đe dọa thể hiện qua nhiều phương pháp khác nhau như: gọi điện thoại, viết thư, nhắn tin qua người khác hoặc trực tiếp gặp người thân của con tin…
Cùng với việc đe đi đe dọa, người phạm tội còn có thể có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc có những hành vi, thủ đoạn khác đối với người bị bắt làm con tin để người này sợ hãi. Để qua đó, họ yêu cầu cơ quan, tổ chức hoặc người thân của nạn nhân nộp tiền hoặc tài sản. Ví dụ, đánh, trói, dọa giết, dọa đánh, dọa đem bán ra nước ngoài, bán cho các ổ mại dâm… Đối với hành vi xâm phạm trực tiếp đến con tin, nếu cấu thành một tội độc lập thì người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tương ứng với hành vi xâm phạm.
Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Hậu quả

Hậu quả của tội này không phải là yếu tố bắt buộc để định tội. Tức là, nếu người phạm tội chưa gây ra hậu quả nhưng có ý thức chiếm đoạt và đã thực hiện hành vi bắt cóc người làm con tin thì khi đó, tội phạm đã hoàn thành. Tuy vậy, nếu gây ra hậu quả thì tuỳ thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm mà người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt nặng hơn hoặc là tình tiết xem xét khi quyết định hình phạt.
Mặt chủ quan của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Yếu tố lỗi
Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt được thực hiện do cố ý.

Mục đích

Mục đích của người phạm tội là mong muốn chiếm đoạt được tài sản. Nếu hành vi bắt cóc người làm con tin lại nhằm một mục đích khác thì đó không phải tội này. Và tùy lúc, người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội phạm tương ứng khác. Ví dụ: Để trả đũa anh Minh, Hoan bắt cóc em trai anh lúc mới hai tuổi để anh Minh phải hủy buổi ký kết hợp đồng quan trọng. Do đó, hành vi của H chỉ phạm tội bắt người trái pháp luật.

Chủ thể của tội phạm

Người phạm tội là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi theo quy định tại Điều 12 luật này. Người từ đủ 16 tuổi trở lên sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi sẽ chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 169 Bộ luật hình sự.

Khách thể của tội phạm

Nghĩa là, người phạm tội cùng một lúc xâm phạm đến hai khách thể (quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân). Do vậy, trong cùng một vụ án có thể có một nạn nhân hoặc nhiều hơn. Có thể có người bị hại chỉ bị xâm phạm đến tài sản nhưng cũng có người chỉ bị xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự; hoặc cùng bị xâm phạm mọi khách thể.

Thông thường khi đó, người bị hại là người bị xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự; còn người bị xâm phạm tài sản lại là những người thân của nạn nhân. Tuy nhiên, cũng có trường hợp người bị bắt cóc đồng thời là người bị xâm phạm tài sản.