1. Công ty hết việc có phải trả lương cho công nhân nghỉ chờ việc không?
Trong trường hợp mà doanh nghiệp tự chủ động quyết định cho nhân viên nghỉ làm khi không còn công việc, thì đây thường thuộc vào tình huống ngừng việc không phải do lỗi của người lao động mà có thể được xem xét theo quy định của Điều 99 Bộ luật lao động năm 2019. Theo đó, khi ngừng việc do tình hình kinh tế, hai bên, tức là người lao động và người sử dụng lao động, sẽ thỏa thuận về mức tiền lương được trả trong thời gian nghỉ việc này.
Theo quy định này, trong thời gian ngừng việc không quá 14 ngày làm việc, tiền lương được trả phải được thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Do đó, trong trường hợp này, công ty vẫn phải chi trả tiền lương cho nhân viên theo quy định của pháp luật, và mức lương được xác định không thấp hơn mức lương tối thiểu được quy định.
| Vùng | Mức lương tối thiểu vùng |
| Vùng I | 4.680.000 đồng/tháng |
| Vùng II | 4.160.000 đồng/tháng |
| Vùng III | 3.640.000 đồng/tháng |
| Vùng IV | 3.250.000 đồng/tháng |
Trong trường hợp ngừng việc kéo dài hơn 14 ngày làm việc, tiền lương sẽ được các bên thỏa thuận, nhưng cần tuân thủ các điều kiện sau:
- Tiền lương ngừng việc trong 14 ngày đầu tiên không thấp hơn mức lương tối thiểu được quy định bởi pháp luật.
- Tiền lương từ ngày thứ 15 trở đi sẽ được quyết định thông qua sự thỏa thuận giữa các bên và không bị ràng buộc bởi mức lương tối thiểu hay mức lương tối đa.
Nếu doanh nghiệp quyết định ngừng việc mà không trả hoặc trả số tiền lương ngừng việc không đủ cho nhân viên, thì họ sẽ phải chịu án phạt hành chính từ 5 đến 50 triệu đồng, tùy thuộc vào số lượng nhân viên bị ảnh hưởng, theo quy định tại Khoản 2, Điều 17 của Nghị định số 12/2022/NĐ-CP.
2. Công ty có quyền cho công nhân nghỉ để chờ việc không?
Theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019, việc nghỉ làm không lương chỉ được áp dụng trong một số trường hợp cụ thể sau đây:
- Khi có thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động theo quy định tại Khoản 3, Điều 115 của Bộ luật Lao động 2019.
- Khi người lao động tự chủ động xin nghỉ khi có sự kiện như người thân kết hôn hoặc qua đời, như được quy định tại Khoản 2, Điều 115 của Bộ luật Lao động 2019.
- Trong trường hợp ngừng việc do lỗi của người lao động, theo quy định tại Khoản 2, Điều 99 của Bộ luật Lao động 2019.
- Khi có thỏa thuận hoặc xảy ra các sự kiện đặc biệt làm phải tạm hoãn hợp đồng lao động theo quy định tại Khoản 2, Điều 30 của Bộ luật Lao động 2019.
Dựa trên những quy định nêu trên, nếu công ty đang đối mặt với khó khăn tài chính và không đủ việc làm cho nhân viên, họ cần tiếp cận người lao động và thỏa thuận về việc nghỉ làm không lương trong thời gian chờ việc. Tuy nhiên, nếu người lao động không đồng ý, công ty vẫn phải đảm bảo trả tiền lương ngừng việc cho người lao động đó, theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp cố tình cho nhân viên nghỉ việc không lương khi công ty gặp ít đơn hàng, người sử dụng lao động sẽ phải chịu án phạt hành chính theo quy định tại Khoản 2, Điều 17 của Nghị định số 12/2022/NĐ-CP. Cụ thể:
- Phạt từ 5 đến 10 triệu đồng nếu không trả hoặc trả không đủ tiền lương ngừng việc cho 1 đến 10 người lao động.
- Phạt từ 10 đến 20 triệu đồng nếu không trả hoặc trả không đủ tiền lương ngừng việc cho 11 đến 50 người lao động.
- Phạt từ 20 đến 30 triệu đồng nếu không trả hoặc trả không đủ tiền lương ngừng việc cho 51 đến 100 người lao động.
- Phạt từ 30 đến 40 triệu đồng nếu không trả hoặc trả không đủ tiền lương ngừng việc cho 301 người lao động trở lên.
Quy định xử phạt nêu trên nhằm nhấn mạnh sự cần thiết phải tuân thủ pháp luật và đảm bảo quyền lợi của người lao động trong mọi tình huống, kể cả khi doanh nghiệp đối mặt với thách thức tài chính.
3. Hướng dẫn trả lương ngừng việc cho người lao động trong thời gian dịch bệnh
Theo Công văn số 264/QHLĐTL-TL ngày 15/6/2021 của Cục Quan hệ lao động và Tiền lương - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cũng như hướng dẫn của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã có sử dụng lao động trong bối cảnh đại dịch Covid-19, việc trả lương ngừng việc phải tuân thủ các nguyên tắc và quy định nhất định:
Theo nguyên tắc, việc trả lương ngừng việc phải căn cứ vào quy định tại Điều 99 của Bộ luật Lao động năm 2019 để xem xét các trường hợp gây ra ngừng việc, bao gồm nguyên nhân từ do lỗi của người sử dụng lao động hoặc nguyên nhân khách quan.
Đối với các trường hợp mà người lao động phải ngừng việc do tác động trực tiếp của dịch Covid-19, việc trả lương ngừng việc được xác định như sau:
- Người lao động phải ngừng việc trong thời gian thực hiện cách ly theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, bao gồm cách ly tập trung, cách ly tại nhà, cách ly tại khu nhà trọ, cách ly khu lưu trú, và các biện pháp tương tự.
- Người lao động phải ngừng việc do nơi làm việc hoặc nơi cư trú bị phong tỏa theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
- Người lao động phải ngừng việc do doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp phải tạm dừng hoạt động để phòng, chống dịch bệnh theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, bao gồm cả các trường hợp người lao động phải ngừng việc khi doanh nghiệp thực hiện phương án "3 tại chỗ" theo hướng dẫn của Ủy ban nhân dân tỉnh.
- Người lao động phải ngừng việc do doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp không hoạt động được vì chủ sử dụng lao động hoặc những người lao động khác cùng doanh nghiệp, bộ phận doanh nghiệp đó đang trong thời gian phải cách ly hoặc chưa quay trở lại doanh nghiệp làm việc.
Điều này nhấn mạnh sự quan trọng của việc đảm bảo quyền lợi và an toàn của người lao động trong bối cảnh đại dịch, đồng thời tôn trọng và thực hiện đúng quy định của pháp luật lao động.
Trong trường hợp này, tiền lương ngừng việc được quy định theo thỏa thuận giữa doanh nghiệp và người lao động, tuy nhiên cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Trong trường hợp thời gian ngừng việc từ 14 ngày làm việc trở xuống (không tính ngày nghỉ hàng tuần và ngày nghỉ lễ, tết), tiền lương ngừng việc phải được thỏa thuận sao cho không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng. Doanh nghiệp có thể trả tiền lương ngừng việc bằng hoặc cao hơn mức lương tối thiểu vùng.
- Trong trường hợp thời gian ngừng việc trên 14 ngày làm việc (không tính ngày nghỉ hàng tuần và ngày nghỉ lễ, tết), tiền lương ngừng việc được xác định như sau:
+ Tiền lương ngừng việc trong 14 ngày đầu tiên phải được thỏa thuận sao cho không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng. Doanh nghiệp có thể trả tiền lương ngừng việc bằng hoặc cao hơn mức lương tối thiểu vùng.
+ Tiền lương ngừng việc từ ngày thứ 15 trở đi sẽ được thỏa thuận giữa hai bên, có thể trả thấp hơn, bằng hoặc cao hơn mức lương tối thiểu vùng.
Trong thời gian người lao động ngừng việc và hưởng tiền lương ngừng việc như nêu trên thì doanh nghiệp và người lao động được thực hiện đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo mức tiền lương người lao động được hưởng trong thời gian ngừng việc
Xem thêm: Công ty không có việc làm - Tiền lương trong thời gian chờ việc được quy định thế nào?
Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Công ty có quyền cho công nhân nghỉ chờ việc không? của Bộ Y tế mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!