1. Vợ chồng chung sống với nhau nhưng không đăng ký kết hôn có được pháp luật công nhận?

Căn cứ theo Mục 2 Thông tư liên tịch 01/2001/TT-TANDTC-VKSNDTC-BTP thì có quy định hướng dẫn về trường hợp nam nữ chung sông nhưng không đăng ký kết hôn thì:  Đối với trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 trở đi đến trước ngày 01/01/2001 (ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực) mà có đủ điều kiện kết hôn, nhưng chưa đăng ký kết hôn và đang chung sống với nhau như vợ chồng, thì theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội họ có nghĩa vụ đăng ký kết hôn kể từ ngày 01/01/2001 cho đến ngày 01/01/2003; do đó, cần phân biệt như sau:

+/ Kể từ ngày 01/01/2001 cho đến ngày 01/01/2003 nếu họ chưa đăng ký kết hôn hoặc đã đăng ký kết hôn mà họ có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Cần chú ý trong trường hợp họ thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, thì quan hệ của họ vẫn được công nhận là đã xác lập kể từ ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng, chứ không phải kể từ ngày đăng ký kết hôn. Việc đăng ký kết hôn theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội do Bộ Tư pháp hướng dẫn.

(Cưới hai vợ nhưng không đăng ký kết hôn thì có được không- Hình minh họa)

+/ Kể từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn, thì theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội họ không được công nhận là vợ chồng; nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án để giải quyết và áp dụng điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, bằng bản án tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng; nếu họ có yêu cầu về nuôi con và chia tài sản, thì Toà án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết theo thủ tục chung.

Như vậy thì hiện nay nếu các bạn chỉ chung sống với nhau như vợ chồng mà không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì các bạn không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Ngoại trừ một số trường hợp ở phía trên mà chúng tôi có tiến hành đề cập đến nội dung. 

 

2. Cưới hai vợ nhưng không đăng ký kết hôn có được không 

Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình thì được quy định một cách cụ thể như sau tại Luật hôn nhân và gia đình 2014 

+/ Hôn nhân giữa hai người  phải là một cuộc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng với nhau, không có sự ép buộc hay lừa dối và trong cuộc hôn nhân đó vợ chồng phải bình đẳng nhau về các quyền và nghĩa vụ trong hôn nhân. 

+/ Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Do đó thì không có sự phân biệt hay kỳ thị giữa các dân tộc tôn giáo và những người nước ngoài với trong nước trong quan hệ hôn nhân. 

+/ Không có sự phân biệt đối xử trọng nam khinh nữ hay là có sự đối sử bất công giữa các con, gia đình sẽ được  Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc và các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong việc xây dựng và gìn giữ hôn nhân. 

+/Đối với  trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình thì sẽ được nhà nhước hỗ trợ. Bên cạnh đó thì cần phải giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ. Và thực hiện kế hoạch hóa gia đình.

+/ Một nguyên tắc nữa đó là hôn nhân phải được kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc về hôn nhân và gia đình. 

Như vậy thì theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình thì nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình là hôn nhân một vợ một chồng và có thực hiện đăng ký kết hôn. Do đó bạn có cưới hai người vợ nhưng không thực hiện đăng ký kết hôn thì đó là bạn mới thực hiện theo phong tục truyền thống còn thực chất bạn cưới nhưng không đăng ký kết hôn thì không được xem là vợ chồng về mặt pháp luật. Và không được pháp luật bảo vệ trong quan hệ hôn nhân. Hành vi cưới hai vợ của bạn không vi phạm pháp luật( vì không có thực hiện đăng ký) nhưng lại đi trái với thuần phong mỹ thục của văn hóa Việt Nam. 

Tóm lại thì hành vi cưới hai vợ nhưng không có đăng ký kết hôn là hành vi được xem là không vi phạm pháp luật vì bản thân những người trong quan hệ chung sống này không có tiến hành đăng ký kết hôn nhưng về mặt đạo đức hay thuần phong mỹ thục thì nó chưa phù hợp với quy định pháp luật. 

 

3. Giải quyết về tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn.

Căn cứ pháp lý: Điều 16 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam nữ, chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn như sau:

+/ Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì sẽ được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên. Đối với những trường hợp  mà không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

+/ Tiếp theo đó là việc giải quyết quan hệ tài sản thì cần phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con.  Công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập trong quan hệ hôn nhân. 

Ngoài ra thì tại Điều 219 Bộ luật dân sự 2015 quy định về chia tài sản thuộc sở hữu chung như sau:

Trường hợp sở hữu chung có thể phân chia thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung.Nếu tình trạng sở hữu chung phải được duy trì trong một thời hạn theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của luật thì mỗi chủ sở hữu chung chỉ có quyền yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hạn đó; khi tài sản chung không thể chia được bằng hiện vật thì chủ sở hữu chung có yêu cầu chia có quyền bán phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp các chủ sở hữu chung có thỏa thuận khác.

Trường hợp có người yêu cầu một người trong số các chủ sở hữu chung thực hiện nghĩa vụ thanh toán và chủ sở hữu chung đó không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thanh toán thì người yêu cầu có quyền yêu cầu chia tài sản chung và tham gia vào việc chia tài sản chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Nếu không thể chia phần quyền sở hữu bằng hiện vật hoặc việc chia này bị các chủ sở hữu chung còn lại phản đối thì người có quyền có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ bán phần quyền sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

Như vậy thì do các bạn không đăng ký kết hôn thì không thể phân chia tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình được mà sẽ thực hiện chia theo quy định của Bộ luật Dân sự. Tài sản sẽ được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc về người đó và tài sản chung được chia theo thỏa thuận của các bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Các bạn có thể chủ động liên hệ với chúng tôi thông qua số điện thoại của tổng đài tư vấn 19006162 hoặc gửi yêu cầu cần tư vấn đến địa chỉ email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp hướng dẫn một cách cụ thể và nhanh chóng nhất. 

Ngoài ra thì các bạn còn có thể tham khảo thêm một số nội dung bài viết sau đây của chúng tôi để có thêm thông tin chi tiết:

Những nét đặc trưng của chế độ hôn nhân ở Việt Nam hiện nay?

Chế độ hôn nhân trong pháp luật phong kiến Việt Nam quy định thế nào ?