- 1. Đặc điểm cấu thành tội phạm xâm hại đến nền công vụ quốc gia
- 2. Đặc điểm cơ bản của các cấu thành tội phạm trong lĩnh vực nhân thân
- 3. Một số lưu ý đối với tội phạm xâm hại đến nhân thân
- 4. Đặc điểm cơ bản của các cấu thành tội phạm trong lĩnh vực xây dựng kinh tế và văn hóa-xã hội
- 5. Đặc điểm cấu thành tội phạm trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội
1. Đặc điểm cấu thành tội phạm xâm hại đến nền công vụ quốc gia
Các cấu thành tội phạm xâm hại đến nền công vụ quốc gia (gọi tắt là các cấu thành tội phạm về chức vụ vì do chủ thể đặc biệt là người có chức vụ, quyền hạn nhất định thực hiện) trong giai đoạn này (1945-1955) về cơ bản đã được ghi nhận tại một số văn bản pháp luật hình sự như: sắc lệnh số 223/SL ngày 17/11/1946; sắc lệnh số 154/SL ngày 17/11/1950; sắc lệnh số 128/SL ngày 14/7/1950 (Điều 1 đề cập các tội này liên quan đến công văn của Chính phủ),... Việc phân tích nội hàm các cấu thành tội phạm đã được ghi nhận trong các sắc lệnh này đã cho thấy một số nét chủ yếu như sau:
a. Trong các văn bản pháp luật hình sự trên đây nhà làm luật đã quy định trách nhiệm hình sự đối với việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội tương ứng vối 05 cấu thành tội phạm cơ bản của các tội phạm về chức vụ là: Đưa hối lộ; Nhận hối lộ; Tiết lộ bí mật kinh tế; Tiết lộ bí mật công tác và; Bóc trái phép, trộm cắp hoặc thủ tiêu công văn của Chính phủ.
b. Theo quan điểm của nhà làm luật thì chủ thể đặc biệt của 04 cấu thành tội phạm cơ bản đầu tiên chỉ có thể là người có chức vụ và các công chức nhà nước mà phạm trù sau được định nghĩa là “nhân viên trong Chính phủ, trong các ủy ban hành chính các cấp địa phương, các cơ quan do nhân dân bầu ra, trong bộ đội và tất cả các người phụ trách một công vụ” (Điều 3 sắc lệnh số 223/SL ngày 17/11/1946).
c. Đối với các tội phạm đã nêu trên đây thì mức hình phạt cao nhất là 10 năm tù (được quy định đối với tội đưa hối lộ hoặc nhận hôi lộ) và mức hình phạt thấp nhất là 06 tháng tù (được quy định đối với tội tiết lộ bí mật kinh tể).
=> Như vậy, cũng như các cấu thành tội phạm thuộc lĩnh vực hoạt động tư pháp rõ ràng trong giai đoạn 10 năm đầu sau Cách mạng Tháng Tám (1945-1955) trong hệ thống pháp luật hình sự nước Việt Nam vẫn còn thiếu nhiều các cấu thành tội phạm về chức vụ.
2. Đặc điểm cơ bản của các cấu thành tội phạm trong lĩnh vực nhân thân
Các đặc điểm cơ bản của các cấu thành tội phạm trong lĩnh vực nhân thân (cá nhân), các quyền, tự do và sở hữu của công dân. Việc phân tích các quy phạm về các cấu thành tội phạm trong hệ thống hai nhóm văn bản pháp luật hình sự (đã nêu trên) xâm hại đến những khách thể thuộc lĩnh vực lốn đang được nghiên cứu ở đây cho phép chỉ ra một số đặc điểm cơ bản dưới đây:
a. Các cấu thành tội phạm trong các văn bản pháp luật hình sự thuộc hai nhóm đã nêu trên về cơ bản đã được ghi nhận trong một phạm vi rộng lớn các văn bản pháp luật hình sự của Nhà nước Việt Nam giai đoạn 10 năm đầu tiên sau Cách mạng là: Sắc lệnh số 27/SL ngày 23/2/1946; sắc lệnh số 128/SL ngày 14/7/1950 đã nêu: Những hành vi bóc trộm, ăn cắp, hay thủ tiêu thư từ của tư nhân” (Điều 2 đề cập các tội này liên quan đến tư nhân) và; Thông tư số 442-TTg ngày 19/01/1955 (như: trộm, cướp, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm, cố ý gây thương tích và giết người).
b. Việc phân tích các cấu thành tội phạm được ghi nhận trong hệ thông pháp luật hình sự đề cập cuộc đấu tranh chông tội phạm để bảo vệ những khách thể tương ứng tránh khỏi sự xâm hại của các tội phạm thuộc lĩnh vực nhân thân (cá nhân), các quyền, tự do và sở hữu của công dân có thể được phân chia thành ba nhóm cơ bản như sau: Các cấu thành tội phạm xâm hại đến nhân thân (cá nhân) và; Các cấu thành tội phạm xâm hại đến các quyền và tự do của công dân.
Như vậy, tiếp theo dưới đây tại chúng ta sẽ lần lượt xem xét đặc điểm chung của các cấu thành tội phạm xâm hại đến những nhóm khách thể tương ứng thuộc lĩnh vực đã nêu.
3. Một số lưu ý đối với tội phạm xâm hại đến nhân thân
Các cấu thành tội phạm xâm hại đến nhân thân (cá nhân) được ghi nhận trong các văn bản pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn 10 năm đầu sau Cách mạng Tháng Tám (1945-1955) cho thấy, nhóm các tội xâm phạm nhân thân vê cơ bản là các cấu thành tội phạm chông lại những lợi ích hàng đầu và quan trọng nhất của công dân tương ứng với ba khách thể trực tiếp — tính mạng, sức khỏe, tự do cá nhân. Nói chung, trách nhiệm hình sự đốĩ với nhóm tội phạm này về cơ bản đã được đề cập bằng các quy phạm trong hai văn bản (đã nêu trên đây) của chính quyền cách mạng là: Sắc lệnh số 27/SL ngày 28/2/1946 (Điều thứ 1) và; Thông tư số 442 ngày 19/01/1955 của Thủ tướng Chính phủ (các điều 3-4), mà việc phân tích các quy phạm pháp luật hình sự trong hai văn bản này đã cho thấy một số nét chủ yếu như sau:
a. Các cấu thành tội phạm xâm hại đến tính mạng con người về cơ bản là gồm hai dạng giết người với 05 cấu thành tội phạm - 02 cấu thành tội phạm cơ bản, 02 cấu thành tội phạm táng nặng và 01 cấu thành tội phạm giảm nhẹ như: cố ý giết người; giết người với các tình tiết tăng nặng; giết người có dự mưu; vô ý làm chết người và; vô ý làm chết người kèm theo cái chết của nhiều người và gây thiệt hại đáng kể về tài sản cho người khác.
b. Các cấu thành tội phạm xâm hại đến sức khỏe người khác. Việc phân tích các văn bản pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn 10 năm đầu sau Cách mạng Tháng Tám (1945-1955) cho thấy, nhóm các hành vi xâm phạm đến sức khỏe người khác về cơ bản gồm hai dạng gây thương tích tương ứng vối 03 cấu thành tội phạm (02 cấu thành tội phạm cơ bản và 01 cấu thành tội phạm tăng nặng) - cố ý gây thương tích; cố ý gây thương tích được thực hiện bởi nhóm người có tổ chức hoặc dẫn đến nạn nhân bị tàn tật hay bị chết và; vô ý gây thương tích.
c. Cấu thành tội phạm xâm hại đến tự do cá nhân theo pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn 10 năm (1945-1955) nói chung chỉ có 01 cấu thành tội phạm là bắt cóc người khác.
=> Như vậy, từ sự phân tích khoa học trên đây đã cho thấy trong giai đoạn 10 năm đầu sau Cách mạng Tháng Tám (1945-1955) thì trong hệ thống pháp luật hình sự của nước ta vẫn còn thiếu nhiều loại cấu thành tội phạm xâm hại đến nhân thân (như: các tội phạm về tình dục, tội vu khống, tội lăng mạ,...) đó là vì về cơ bản, các tội còn thiếu này được giải quyết chủ yếu là trên cơ sỏ pháp luật hình sự trước Cách mạng.
4. Đặc điểm cơ bản của các cấu thành tội phạm trong lĩnh vực xây dựng kinh tế và văn hóa-xã hội
Về các đặc điểm cơ bản của các cấu thành tội phạm trong lĩnh vực xây dựng kinh tế và văn hóa-xã hội. Việc phân tích khoa học các cấu thành tội phạm trong các văn bản pháp luật hình sự (đã nêu trên) xâm hại đến những khách thể thuộc lĩnh vực đang phân tích ở nước ta trong 10 năm đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám (1945-1955) đã cho thấy:
a. Về cơ bản các cấu thành tội phạm này đã được chứa đựng trong một phạm vi rộng lớn của hai nhóm văn bản pháp luật hình sự (các văn bản pháp luật hình sự và các văn bản pháp luật khác có tính chất hình sự) của Nhà nưốc Việt Nam ở giai đoạn này là: sắc lệnh số 50/SL ngày 09/10/1945 về cấm xuất khẩu gạo, ngô, đỗ và các thực phẩm từ ngũ cốc; sắc lệnh số 26 ngày 25/01/1946; sắc lệnh số 12/SL ngày 12/3/1949; sắc lệnh số T80/SL ngày 20/12/1950; sắc lệnh số’ 151/SL ngày 12/4/1953; 6) sắc lệnh số 7/SL ngày 05/9/1945; sắc lệnh số 45/SL ngày 05/4/1946; Sắc lệnh số’ 202/SL ngày 15/10/1946; sắc lệnh số 61/SL ngày 05/4/1947; sắc lệnh sô” 257/SL ngày 19/11/1948; sắc lệnh số 68/SL ngày 18/6/1949; sắc lệnh số 124/SL ngày 27/10/1949; Sắc lệnh số 163/SL ngày 17/11/1950; Điều lệ số 542-TTg ngày 26/5/1955,...
b. Căn cứ vào hai nhóm văn bản pháp luật hình sự trên đây khi phân tích khoa học các cấu thành tội phạm được ghi nhận trong các văn bản đó để tiến hành cuộc đấu tranh chống tội phạm nhằm bảo vệ những khách thể tương ứng thuộc lĩnh vực kinh tế - văn hóa xã hội giai đoạn 10 năm đầu sau Cách mạng (1945-1955) thì có thể tạm phân chia chúng theo các nhóm quan hệ xã hội trong bốn lĩnh vực cơ bản như sau: Nông nghiệp; Thương nghiệp; Tài chính; Kinh tế đốì ngoại.
c. Các cấu thành tội phạm trong lĩnh vực nông nghiệp của nưốc ta trong giai đoạn này (1945-1955) về cơ bản được quy định trong các văn bản pháp luật hình sự như: sắc lệnh số 68/SL ngày 18/6/1949; sắc lệnh số 163/SL ngày 17/11/1950; Sắc lệnh số 151/SL ngày 12/4/1953.
5. Đặc điểm cấu thành tội phạm trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội
Các cấu thành tội phạm trong lĩnh vực này là những hành vi xâm hại nguy hiểm cho xã hội như sau: Vi phạm các quy tắc về bảo vệ các công trình thủy nông; Vi phạm các quy định về tiết kiệm gạo và gia súc; Giết thịt trâu bò trái phép; Vi phạm các quy định về đàng ký, bán và vận chuyển muối; Tất cả những hành vi chông đô”i pháp luật của địa chủ.
a. Chủ thể đặc biệt của nhóm các hành vi trong cấu thành tội phạm chông đôì pháp luật chỉ có thể địa chủ nào chông đối pháp luật (mà cụ thể là các quy định trong sắc lệnh số 151/SL ngày 12/4/1953).
b. Mức hình phạt nghiêm khắc nhất tại các cấu thành tội phạm trên đây là tử hình, được quy định đối với: Vi phạm các quy tắc về bảo vệ các công trình thủy nông gây thiệt hại cho nhiều tỉnh; Bất kỳ hành vi nào trong số các cấu thành tội phạm được quy định tại Điều 6 sắc lệnh số 151/SL ngày 12/4/1953.
c. Mức hình phạt thấp nhất tại các cấu thành tội phạm trên đây là phạt tiền ỏ mức 1.000 đồng, được quy định đối với hành vi giết thịt trâu bò trái phép.
d. Các cấu thành tội phạm xâm hại đến nền thương nghiệp của nưốc ta trong giai đoạn này về cơ bản đã được nêu trong các văn bản pháp luật hình sự như: Sắc lệnh số 7/SL ngày 05/9/1945; sắc lệnh số 202/SL ngày 15/10/1946; sắc lệnh số 257/SL ngày 19/11/1948; sắc lệnh số 8/SL ngày 25/02/1949 (được sửa đổi, bổ sung bởi Sắc lệnh số 169/SL ngày 17/11/1950 về việc nghiêm cấm việc tự ý tăng giá do Chính phủ quy định đối với hàng hóa cần thiêt cho đời sống nhân dân và công cuộc kháng chiến (sau đây gọi tắt là Sắc lệnh số 8/SL ngày 25/02/1949); sắc lệnh số' 167/SL ngày 17/11/1950 về việc phân phốĩ, hàng hóa, thực phẩm và hàng dự trữ trong nưốc;...
Việc phân tích các cấu thành tội phạm trong các văn bản pháp luật hình sự này cho thấy một số điểm chủ yếu dưới đây:
- Nhà làm luật đã quy định trách nhiệm hình sự đối với việc vi phạm tất cả các quy định tại các văn bản pháp luật hình sự nêu trên.
- Nhược điểm của các quy phạm về một số cấu thành tội phạm trên đây là vẫn còn tồn tại chế tài không cụ thể (Điều 4 sắc lệnh số 7 ngày 05/9/1945).
- Mức xử phạt cao nhất trong các cấu thành tội phạm trên đây là phạt tù đến 5 năm được quy định đối với sự vi phạm Sắc lệnh số 8/SL ngày 25/02/1949; sắc lệnh số 169/SL ngày 17/11/1950.
- Mức hình phạt thấp nhất trong các cấu thành tội phạm trên đây là phạt tù đến 01 năm được quy định đối với sự vi phạm Sắc lệnh số 167/SL ngày 17/11/1950.
e. Các cấu thành tội phạm thuộc lĩnh vực tài chính của nước ta trong giai đoạn này vể cơ bản được chứa đựng trong các văn bản pháp luật hình sự như: sắc lệnh số 180/SL ngày 20/12/1950, Sắc lệnh sô” 45/SL ngày 05/4/1946, Điều lệ số’ 542-TTg ngày 26/5/1955 của Thủ tướng Chính phủ;...
>> Xem thêm: Cấu thành tội phạm là gì? Ý nghĩa và các yếu tố cấu thành tội phạm?