- 1. Khái niệm "bỏ sinh hoạt Đảng" và các trường hợp không tham gia
- 2. Quy định về thời gian vắng sinh hoạt Đảng và các mức độ xử lý
- 2.1. Đảng viên vắng sinh hoạt từ 03 tháng trong một năm không có lý do chính đáng
- 2.2. Đảng viên vắng sinh hoạt liên tục 03 tháng
- 2.3. Chậm làm thủ tục chuyển sinh hoạt Đảng quá 03 tháng
- 2.4. Hết thời hạn tạm miễn sinh hoạt nhưng không quay trở lại
- 3. Quy trình xử lý kỷ luật đối với đảng viên bỏ sinh hoạt
- Bước 1. Yêu cầu đảng viên kiểm điểm
- Bước 2. Chi bộ họp và biểu quyết
- Bước 3. Đảng ủy cơ sở xem xét hồ sơ
- Bước 4. Cấp có thẩm quyền ban hành quyết định
- 4. Các hình thức kỷ luật cụ thể: Khiển trách, Cảnh cáo, Khai trừ và Xóa tên
- 4.1. Khiển trách
- 4.2. Cảnh cáo
- 4.3. Khai trừ
- 4.4. Xóa tên khỏi danh sách đảng viên
- 5. Trường hợp vắng sinh hoạt có lý do chính đáng và giới hạn cho phép
- 6. Hậu quả pháp lý và ảnh hưởng đến quyền lợi đảng viên
- 7. Giải đáp thắc mắc thường gặp về việc không sinh hoạt Đảng
- 7.1. Đảng viên chậm chuyển sinh hoạt Đảng quá 03 tháng có bị xóa tên không?
- 7.2. Cấp ủy nơi đảng viên sinh hoạt tạm thời có quyền xóa tên đảng viên không?
- 7.3. Đảng viên dự bị không tham gia sinh hoạt có bị xóa tên không?
- 7.4. Đảng viên bị khởi tố hình sự có đương nhiên bị đình chỉ sinh hoạt Đảng không?
- 7.5. Sau thời gian được miễn sinh hoạt, đảng viên cần thực hiện thủ tục gì?
- 7.6. Xóa tên khỏi danh sách đảng viên và khai trừ khỏi Đảng khác nhau như thế nào?
1. Khái niệm "bỏ sinh hoạt Đảng" và các trường hợp không tham gia
Sinh hoạt Đảng là chế độ sinh hoạt bắt buộc đối với mọi đảng viên theo Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ chính trị nhằm bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của tổ chức đảng, duy trì kỷ luật, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và phát huy trách nhiệm của mỗi đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ được giao.
Theo Quy định số 20-QĐ/TW ngày 08/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương và Hướng dẫn số 01-HD/TW ngày 19/5/2026 của Ban Bí thư, hành vi "bỏ sinh hoạt Đảng" được hiểu là việc đảng viên tự ý không tham gia sinh hoạt chi bộ mà không có lý do chính đáng, không báo cáo với chi bộ và không được tổ chức đảng chấp thuận. Trên thực tế, hành vi này thường đi kèm với việc không thực hiện nhiệm vụ do chi bộ phân công, không đóng đảng phí hoặc cắt đứt liên hệ với tổ chức đảng.
Đây là hành vi vi phạm kỷ luật tổ chức, làm ảnh hưởng đến nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ tự phê bình và phê bình cũng như hiệu quả lãnh đạo của tổ chức đảng. Tùy theo tính chất, mức độ và thời gian vi phạm, đảng viên có thể bị xem xét xử lý kỷ luật hoặc bị xóa tên khỏi danh sách đảng viên theo quy định.
Trong công tác quản lý đảng viên, cần phân biệt rõ giữa việc tự ý bỏ sinh hoạt Đảng và trường hợp không tham gia sinh hoạt có lý do chính đáng.
Trường hợp tự ý bỏ sinh hoạt Đảng là khi đảng viên hoàn toàn có điều kiện tham gia sinh hoạt nhưng cố tình vắng mặt, không báo cáo, không xin phép hoặc không chấp hành yêu cầu của chi bộ. Đây là hành vi xuất phát từ ý chí chủ quan của đảng viên và là căn cứ để tổ chức đảng xem xét áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định.
Ngược lại, không tham gia sinh hoạt Đảng có lý do chính đáng là trường hợp đảng viên gặp những hoàn cảnh khách quan như:
- Ốm đau, điều trị bệnh dài ngày.
- Nghỉ thai sản theo quy định.
- Được cơ quan có thẩm quyền cử đi công tác, học tập.
- Đi lao động hoặc làm việc xa nơi cư trú trong thời gian nhất định.
- Các trường hợp đặc biệt khác được cấp có thẩm quyền chấp thuận.
Đối với những trường hợp này, đảng viên phải thực hiện thủ tục đề nghị tạm miễn sinh hoạt Đảng và công tác theo quy định. Khi được cấp có thẩm quyền đồng ý, việc không tham gia sinh hoạt không bị coi là hành vi vi phạm kỷ luật.
Có thể thấy, yếu tố quyết định để xác định một đảng viên có "bỏ sinh hoạt Đảng" hay không không chỉ nằm ở việc vắng mặt, mà còn phụ thuộc vào lý do vắng mặt, việc báo cáo với tổ chức đảng và sự chấp thuận của cấp có thẩm quyền. Việc phân biệt đúng hai trường hợp này giúp chi bộ áp dụng đúng quy định, bảo đảm vừa giữ nghiêm kỷ luật của Đảng, vừa bảo vệ quyền và lợi ích chính trị hợp pháp của đảng viên.
2. Quy định về thời gian vắng sinh hoạt Đảng và các mức độ xử lý
Một trong những căn cứ quan trọng để tổ chức đảng xem xét trách nhiệm của đảng viên là thời gian không tham gia sinh hoạt Đảng và không thực hiện nghĩa vụ của đảng viên. So với các quy định trước đây, Quy định số 20-QĐ/TW ngày 08/4/2026 đã cụ thể hóa rõ các mốc thời gian, tạo cơ sở thống nhất trong công tác quản lý, sàng lọc và xử lý đảng viên vi phạm.
Theo Điều 8 Điều lệ Đảng cùng các quy định hướng dẫn thi hành, việc xử lý được xác định dựa trên thời gian vắng mặt, tính chất vi phạm và việc thực hiện nghĩa vụ đóng đảng phí.
Các trường hợp điển hình gồm:
2.1. Đảng viên vắng sinh hoạt từ 03 tháng trong một năm không có lý do chính đáng
Đây là trường hợp đảng viên không tham gia sinh hoạt trong tổng thời gian từ 03 tháng trở lên trong năm mà không được chi bộ chấp thuận, dù thời gian vắng có thể không liên tục.
Khi đó, chi bộ sẽ tiến hành xem xét, đánh giá nguyên nhân, yêu cầu đảng viên kiểm điểm và có thể đề nghị cấp ủy có thẩm quyền quyết định xóa tên khỏi danh sách đảng viên nếu xác định đảng viên không còn ý thức chấp hành Điều lệ Đảng.
2.2. Đảng viên vắng sinh hoạt liên tục 03 tháng
Đây là điểm mới đáng chú ý của Quy định số 20-QĐ/TW năm 2026.
Nếu đảng viên đồng thời:
- không tham gia sinh hoạt chi bộ liên tục 03 tháng;
- không đóng đảng phí;
- không có lý do chính đáng,
thì chi bộ có thể khởi động ngay quy trình xem xét xóa tên mà không cần chờ đến cuối năm để cộng dồn thời gian vắng mặt.
Quy định này thể hiện yêu cầu nâng cao kỷ luật tổ chức, đồng thời giúp các cấp ủy kịp thời rà soát, sàng lọc những trường hợp đã thực tế không còn gắn bó với tổ chức đảng.
2.3. Chậm làm thủ tục chuyển sinh hoạt Đảng quá 03 tháng
Đối với đảng viên đã được giới thiệu chuyển sinh hoạt đến tổ chức đảng mới nhưng quá 03 tháng kể từ ngày nhận hồ sơ vẫn không hoàn tất thủ tục mà không có lý do chính đáng, cấp có thẩm quyền có thể xem xét xóa tên với lý do tự ý bỏ sinh hoạt Đảng.
Quy định này nhằm bảo đảm việc quản lý đảng viên được liên tục, tránh tình trạng đảng viên "treo" hồ sơ hoặc không thuộc sự quản lý của bất kỳ tổ chức đảng nào.
2.4. Hết thời hạn tạm miễn sinh hoạt nhưng không quay trở lại
Theo Hướng dẫn số 01-HD/TW năm 2026, thời gian miễn sinh hoạt Đảng chỉ có giá trị trong thời hạn được cấp có thẩm quyền chấp thuận.
Sau khi hết thời hạn miễn sinh hoạt, nếu đảng viên:
- không báo cáo trở lại sinh hoạt;
- không làm thủ tục gia hạn;
- không chứng minh được lý do khách quan mới,
thì chi bộ có quyền xem xét đưa vào diện xử lý theo quy định, trong đó có thể đề nghị xóa tên nếu đủ điều kiện.
Như vậy, pháp luật nội bộ của Đảng không chỉ xem xét số tháng vắng sinh hoạt mà còn đánh giá toàn diện thái độ chấp hành, việc giữ liên hệ với tổ chức đảng và việc thực hiện nghĩa vụ đóng đảng phí. Thời gian vắng mặt càng kéo dài, đặc biệt là trường hợp liên tục không có lý do chính đáng, thì hậu quả pháp lý đối với đảng viên càng nghiêm trọng.
3. Quy trình xử lý kỷ luật đối với đảng viên bỏ sinh hoạt
Việc xem xét xử lý đảng viên tự ý bỏ sinh hoạt Đảng phải được thực hiện theo trình tự, thủ tục chặt chẽ nhằm bảo đảm tính khách quan, dân chủ và đúng thẩm quyền.
Theo Hướng dẫn số 01-HD/TW ngày 19/5/2026, mặc dù xóa tên khỏi danh sách đảng viên không phải là hình thức kỷ luật Đảng, nhưng việc áp dụng biện pháp này vẫn phải trải qua quy trình xem xét đầy đủ, bảo đảm quyền giải trình của đảng viên và trách nhiệm của tổ chức đảng.
Bước 1. Yêu cầu đảng viên kiểm điểm
Chi ủy hoặc bí thư chi bộ có trách nhiệm liên hệ với đảng viên để xác minh tình hình, yêu cầu viết bản tự kiểm điểm và tham dự cuộc họp kiểm điểm tại chi bộ.
Nếu đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đảng viên vẫn cố tình không làm bản kiểm điểm hoặc không tham dự cuộc họp mà không có lý do chính đáng, chi bộ vẫn tiến hành họp theo quy định, đồng thời lập biên bản ghi nhận việc vắng mặt.
Đây là căn cứ quan trọng chứng minh tổ chức đảng đã bảo đảm quyền giải trình của đảng viên trước khi xem xét xử lý.
Bước 2. Chi bộ họp và biểu quyết
Chi bộ tổ chức họp để đánh giá toàn diện:
- nguyên nhân vi phạm;
- thời gian bỏ sinh hoạt;
- thái độ khắc phục của đảng viên;
- mức độ ảnh hưởng đối với tổ chức đảng.
Sau khi thảo luận, chi bộ tiến hành biểu quyết thông qua nghị quyết đề nghị xử lý hoặc đề nghị xóa tên khỏi danh sách đảng viên.
Nghị quyết chỉ được thông qua khi có ít nhất hai phần ba số đảng viên chính thức của chi bộ biểu quyết tán thành.
Bước 3. Đảng ủy cơ sở xem xét hồ sơ
Sau khi nhận hồ sơ từ chi bộ, Đảng ủy cơ sở tổ chức họp để thẩm tra và đánh giá toàn bộ vụ việc.
Nếu đủ căn cứ, Đảng ủy cơ sở ban hành nghị quyết đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định.
Nghị quyết của Đảng ủy cơ sở phải được ít nhất hai phần ba số đảng ủy viên đương nhiệm biểu quyết đồng ý.
Đối với những đảng ủy cơ sở được cấp trên ủy quyền quyết định kết nạp và khai trừ đảng viên, đảng ủy cơ sở có thể trực tiếp ban hành quyết định xóa tên theo đúng phạm vi được giao.
Bước 4. Cấp có thẩm quyền ban hành quyết định
Ban Thường vụ cấp ủy có thẩm quyền kết nạp đảng viên là cơ quan quyết định cuối cùng đối với việc xóa tên.
Quyết định được thông qua khi có trên một nửa số thành viên Ban Thường vụ biểu quyết đồng ý.
Sau khi quyết định có hiệu lực, tổ chức đảng sẽ:
- công bố quyết định tại chi bộ;
- gửi quyết định cho đảng viên;
- thực hiện thu hồi thẻ đảng viên và các giấy tờ liên quan theo quy định.
Đáng chú ý, Khoản 3 Điều 3 Quy định số 20-QĐ/TW năm 2026 quy định nếu quyết định xóa tên được xác định ban hành sai thẩm quyền hoặc không đúng trình tự, cấp ủy cấp trên phải hủy bỏ quyết định đó và tổ chức thực hiện lại đúng quy định, đồng thời xem xét trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan.
Quy định này góp phần bảo đảm nguyên tắc thượng tôn Điều lệ Đảng, hạn chế việc xử lý tùy tiện hoặc vi phạm thủ tục.
4. Các hình thức kỷ luật cụ thể: Khiển trách, Cảnh cáo, Khai trừ và Xóa tên
Theo Điều 35 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam và Điều 7 Quy định số 69-QĐ/TW ngày 06/7/2022 của Bộ Chính trị, đảng viên vi phạm có thể bị áp dụng các hình thức xử lý khác nhau tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi.
Đối với đảng viên chính thức, các hình thức kỷ luật gồm:
- Khiển trách.
- Cảnh cáo.
- Cách chức (nếu giữ chức vụ trong Đảng).
- Khai trừ.
Đối với đảng viên dự bị, chỉ áp dụng hai hình thức là khiển trách và cảnh cáo.
Tuy nhiên, cần phân biệt giữa các hình thức kỷ luật với biện pháp xóa tên khỏi danh sách đảng viên.
4.1. Khiển trách
Khiển trách là hình thức kỷ luật nhẹ nhất, áp dụng đối với các hành vi vi phạm lần đầu, hậu quả chưa nghiêm trọng và đảng viên có thái độ thành khẩn, tích cực khắc phục.
Đối với hành vi liên quan đến sinh hoạt Đảng, khiển trách có thể được xem xét khi việc vi phạm chưa đến mức phải áp dụng hình thức kỷ luật cao hơn hoặc chưa đủ căn cứ để xóa tên.
Theo Quy định số 69-QĐ/TW, thời hiệu xử lý đối với hành vi đến mức khiển trách là 05 năm.
4.2. Cảnh cáo
Cảnh cáo được áp dụng khi đảng viên tái phạm hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng hơn, ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của tổ chức đảng.
Đối với đảng viên sinh hoạt tạm thời, cấp ủy nơi sinh hoạt tạm thời chỉ có thẩm quyền xử lý đến mức cảnh cáo; việc xem xét xóa tên hoặc áp dụng các hình thức cao hơn thuộc thẩm quyền của tổ chức đảng nơi đảng viên sinh hoạt chính thức.
Thời hiệu xử lý đối với hành vi đến mức cảnh cáo là 10 năm.
4.3. Khai trừ
Khai trừ là hình thức kỷ luật nghiêm khắc nhất đối với đảng viên chính thức.
Hình thức này chỉ áp dụng khi đảng viên có hành vi vi phạm đặc biệt nghiêm trọng như:
- vi phạm pháp luật hình sự;
- suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống;
- xâm hại lợi ích của Đảng, Nhà nước;
- các trường hợp khác theo Quy định số 69-QĐ/TW.
Đối với các hành vi đến mức khai trừ, không áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật.
4.4. Xóa tên khỏi danh sách đảng viên
Khác với khai trừ, xóa tên không phải là hình thức kỷ luật mà là biện pháp xử lý về tổ chức.
Biện pháp này chủ yếu áp dụng đối với các trường hợp:
- tự ý bỏ sinh hoạt Đảng;
- không đóng đảng phí theo quy định;
- không còn thực hiện nghĩa vụ của đảng viên;
- suy giảm ý chí phấn đấu nhưng chưa có hành vi vi phạm đặc biệt nghiêm trọng đến mức khai trừ.
Về bản chất pháp lý, xóa tên nhằm loại khỏi danh sách những người không còn duy trì mối liên hệ với tổ chức đảng, trong khi khai trừ là chế tài dành cho những hành vi vi phạm kỷ luật đặc biệt nghiêm trọng.
Một điểm cần lưu ý là theo Quy định số 20-QĐ/TW năm 2026, người đã ra khỏi Đảng do tự ý bỏ sinh hoạt hoặc tự ý trả thẻ đảng sẽ không được xem xét kết nạp lại vào Đảng. Đây là hậu quả pháp lý rất nghiêm khắc, thể hiện yêu cầu đề cao ý thức tổ chức, kỷ luật và trách nhiệm của mỗi đảng viên đối với tổ chức đảng.
5. Trường hợp vắng sinh hoạt có lý do chính đáng và giới hạn cho phép
Pháp luật nội bộ của Đảng không đặt ra yêu cầu mọi đảng viên phải tham gia đầy đủ tất cả các kỳ sinh hoạt trong mọi hoàn cảnh. Để bảo đảm tính nhân văn, phù hợp với điều kiện thực tế, Điều lệ Đảng cùng Hướng dẫn số 01-HD/TW ngày 19/5/2026 đã quy định cơ chế tạm miễn sinh hoạt Đảng và công tác đối với những đảng viên có hoàn cảnh đặc biệt.
Điều này đồng nghĩa với việc, nếu đảng viên không tham gia sinh hoạt vì lý do khách quan, được tổ chức đảng xem xét và chấp thuận theo đúng trình tự thì không bị coi là hành vi tự ý bỏ sinh hoạt Đảng và không bị xử lý kỷ luật hoặc xem xét xóa tên chỉ vì lý do vắng mặt.
- Các trường hợp được xem xét tạm miễn sinh hoạt Đảng
Theo Hướng dẫn số 01-HD/TW, một số trường hợp phổ biến có thể được xem xét gồm:
- Đảng viên tuổi cao, sức khỏe yếu hoặc điều trị bệnh dài ngày
Đảng viên không còn đủ sức khỏe để tham gia sinh hoạt thường xuyên có thể làm đơn đề nghị miễn sinh hoạt Đảng.
Trường hợp sức khỏe quá yếu, không thể trực tiếp lập đơn hoặc báo cáo với chi bộ thì chi bộ có trách nhiệm chủ động xác minh tình hình, báo cáo cấp ủy cấp trên xem xét quyết định theo thẩm quyền.
- Đảng viên được cử đi học tập, công tác hoặc làm việc xa
Đảng viên được cơ quan có thẩm quyền cử đi học tập, công tác trong nước hoặc nước ngoài; người lao động làm việc lưu động, không ổn định nơi cư trú hoặc làm việc xa địa phương trong thời gian nhất định có thể được xem xét tạm miễn sinh hoạt nếu đáp ứng đủ điều kiện theo quy định.
- Đảng viên đi lao động ở nước ngoài
Đối với trường hợp đi lao động hoặc học tập ở nước ngoài có thời hạn hợp pháp, đảng viên được xem xét miễn sinh hoạt trên cơ sở hồ sơ chứng minh và quyết định của cấp có thẩm quyền.
- Đảng viên dự bị có hoàn cảnh đặc biệt
Đối với đảng viên dự bị đi làm ăn xa hoặc gặp hoàn cảnh đặc biệt, tổ chức đảng phải xem xét thận trọng hơn vì đây là giai đoạn tiếp tục rèn luyện, giáo dục trước khi công nhận đảng viên chính thức.
Việc miễn sinh hoạt trong trường hợp này vẫn phải bảo đảm không làm ảnh hưởng đến quá trình theo dõi, đánh giá tư cách đảng viên dự bị.
- Thủ tục xin tạm miễn sinh hoạt Đảng
Đảng viên không được tự ý nghỉ sinh hoạt mà phải thực hiện đúng trình tự theo quy định.
Thông thường, quy trình gồm các bước sau:
- Đảng viên lập đơn đề nghị miễn sinh hoạt Đảng, nêu rõ lý do và thời gian đề nghị miễn.
- Kèm theo đơn là các tài liệu chứng minh như giấy xác nhận của cơ sở y tế, quyết định cử đi công tác, giấy tờ học tập, hợp đồng lao động hoặc các giấy tờ hợp pháp khác.
- Chi bộ tổ chức họp, xem xét hồ sơ, thảo luận và biểu quyết.
- Hồ sơ được trình cấp ủy có thẩm quyền quyết định.
- Sau khi được phê duyệt bằng văn bản, đảng viên được tạm miễn sinh hoạt trong thời gian ghi trong quyết định.
- Giới hạn thời gian được miễn sinh hoạt
Theo Hướng dẫn số 01-HD/TW năm 2026:
- Thời gian miễn sinh hoạt mỗi lần xét duyệt tối đa là 12 tháng.
- Khi hoàn cảnh khách quan vẫn tiếp tục, đảng viên có thể làm thủ tục đề nghị gia hạn.
- Tổng thời gian miễn liên tục thông thường không vượt quá 24 tháng.
Sau khi hết thời hạn được miễn, đảng viên phải chủ động báo cáo để trở lại sinh hoạt hoặc đề nghị gia hạn nếu vẫn còn lý do chính đáng.
Nếu hết thời hạn miễn mà không quay lại sinh hoạt, không làm thủ tục gia hạn và cũng không có lý do khách quan mới thì chi bộ có thể xem xét đưa vào diện xử lý theo quy định.
- Nghĩa vụ của đảng viên trong thời gian được miễn sinh hoạt
Việc được miễn sinh hoạt không đồng nghĩa với việc chấm dứt trách nhiệm của đảng viên.
Trong thời gian này, đảng viên vẫn phải:
- giữ gìn phẩm chất, tư cách đảng viên;
- chấp hành chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước;
- thực hiện nghĩa vụ đóng đảng phí nếu thuộc diện phải đóng;
- giữ liên hệ với tổ chức đảng theo yêu cầu;
- thực hiện các nghĩa vụ khác theo quyết định của cấp có thẩm quyền.
Như vậy, chế độ miễn sinh hoạt chỉ là cơ chế hỗ trợ trong những hoàn cảnh đặc biệt, không phải là quyền được tự ý vắng sinh hoạt hoặc ngừng thực hiện nghĩa vụ của đảng viên.
6. Hậu quả pháp lý và ảnh hưởng đến quyền lợi đảng viên
Việc tự ý bỏ sinh hoạt Đảng không chỉ dẫn đến nguy cơ bị xử lý về mặt tổ chức hoặc kỷ luật mà còn kéo theo nhiều hệ quả pháp lý và chính trị lâu dài đối với cá nhân.
Mức độ ảnh hưởng sẽ phụ thuộc vào hình thức xử lý được áp dụng, nguyên nhân vi phạm và kết luận của tổ chức đảng có thẩm quyền.
- Ảnh hưởng đến tư cách đảng viên
Khi bị xóa tên khỏi danh sách đảng viên hoặc bị khai trừ khỏi Đảng, cá nhân không còn tư cách đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Điều này đồng nghĩa với việc không còn được thực hiện các quyền của đảng viên theo Điều lệ Đảng, bao gồm quyền tham gia sinh hoạt Đảng, biểu quyết, ứng cử, đề cử, bầu cử trong tổ chức đảng và các quyền chính trị nội bộ khác.
- Ảnh hưởng đến quá trình công tác và quy hoạch cán bộ
Đối với cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan lực lượng vũ trang hoặc người giữ chức vụ trong hệ thống chính trị, việc bị xử lý vì tự ý bỏ sinh hoạt Đảng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến:
- quy hoạch cán bộ;
- bổ nhiệm, bổ nhiệm lại;
- giới thiệu ứng cử;
- đánh giá, xếp loại cán bộ hằng năm;
- xem xét nâng ngạch, nâng lương hoặc giao nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý.
Trong nhiều trường hợp, đây là yếu tố bất lợi khi xem xét tiêu chuẩn chính trị đối với cán bộ.
- Lưu vết trong hồ sơ đảng viên và hồ sơ cán bộ
Các quyết định xử lý được lưu trong hồ sơ đảng viên, đồng thời có thể được cập nhật vào hồ sơ cán bộ, công chức, viên chức theo quy định về quản lý cán bộ.
Những thông tin này là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền đánh giá quá trình công tác và xem xét tiêu chuẩn chính trị trong tương lai.
- Không được xem xét kết nạp lại trong một số trường hợp
Một trong những hậu quả nghiêm trọng nhất được Quy định số 20-QĐ/TW năm 2026 xác định là:
Người trước đây ra khỏi Đảng vì tự ý bỏ sinh hoạt Đảng hoặc tự ý trả thẻ đảng sẽ không được xem xét kết nạp lại vào Đảng.
Quy định này thể hiện quan điểm của Đảng về việc đề cao ý thức tổ chức, trách nhiệm và sự gắn bó của đảng viên với tổ chức đảng.
- Quyền khiếu nại quyết định xóa tên
Đảng viên không đồng ý với quyết định xóa tên vẫn có quyền khiếu nại theo quy định.
Theo Hướng dẫn số 01-HD/TW:
- Thời hạn khiếu nại là 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận quyết định.
- Cấp có thẩm quyền phải giải quyết theo thời hạn luật định.
- Khiếu nại có thể được thực hiện theo trình tự từ cấp trên trực tiếp đến cấp có thẩm quyền cao hơn.
Tuy nhiên, các trường hợp khiếu nại quá thời hạn, khiếu nại hộ hoặc khiếu nại khi chưa có quyết định chính thức sẽ không được xem xét giải quyết.
7. Giải đáp thắc mắc thường gặp về việc không sinh hoạt Đảng
7.1. Đảng viên chậm chuyển sinh hoạt Đảng quá 03 tháng có bị xóa tên không?
Có thể.
Theo Quy định số 20-QĐ/TW năm 2026, nếu đảng viên đã được giới thiệu chuyển sinh hoạt nhưng quá 03 tháng kể từ ngày nhận hồ sơ vẫn không hoàn tất thủ tục chuyển đến nơi sinh hoạt mới mà không có lý do chính đáng thì cấp có thẩm quyền có thể xem xét xóa tên khỏi danh sách đảng viên với lý do tự ý bỏ sinh hoạt Đảng.
7.2. Cấp ủy nơi đảng viên sinh hoạt tạm thời có quyền xóa tên đảng viên không?
Không.
Theo Quy định số 22-QĐ/TW, tổ chức đảng nơi đảng viên sinh hoạt tạm thời chỉ có thẩm quyền xem xét xử lý kỷ luật đến mức cảnh cáo theo phạm vi được giao.
Việc quyết định xóa tên khỏi danh sách đảng viên thuộc thẩm quyền của tổ chức đảng nơi đảng viên sinh hoạt chính thức hoặc cấp có thẩm quyền theo quy định.
7.3. Đảng viên dự bị không tham gia sinh hoạt có bị xóa tên không?
Có.
Đảng viên dự bị cũng có nghĩa vụ tham gia sinh hoạt Đảng như đảng viên chính thức.
Nếu tự ý bỏ sinh hoạt, không có lý do chính đáng và đủ điều kiện theo quy định thì vẫn có thể bị xem xét xóa tên khỏi danh sách đảng viên theo đúng trình tự, thủ tục do Điều lệ Đảng và các văn bản hướng dẫn quy định.
7.4. Đảng viên bị khởi tố hình sự có đương nhiên bị đình chỉ sinh hoạt Đảng không?
Không.
Theo Quy định số 22-QĐ/TW, việc bị khởi tố hình sự không đồng nghĩa với việc đương nhiên bị đình chỉ sinh hoạt Đảng.
Việc đình chỉ chỉ được xem xét khi thuộc các trường hợp luật định, chẳng hạn đảng viên bị truy tố hoặc bị áp dụng biện pháp tạm giam.
Nếu sau đó đảng viên bị Tòa án tuyên phạt từ hình phạt cải tạo không giam giữ trở lên và thuộc trường hợp phải khai trừ theo Quy định số 69-QĐ/TW thì tổ chức đảng có thẩm quyền sẽ xem xét áp dụng hình thức kỷ luật tương ứng.
7.5. Sau thời gian được miễn sinh hoạt, đảng viên cần thực hiện thủ tục gì?
Đảng viên phải chủ động báo cáo với chi bộ để trở lại sinh hoạt theo quyết định đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Nếu hoàn cảnh đặc biệt vẫn còn tiếp diễn, đảng viên cần làm thủ tục đề nghị gia hạn trước khi thời hạn miễn kết thúc. Việc tự ý tiếp tục không tham gia sinh hoạt sau khi hết thời hạn miễn mà không được chấp thuận có thể bị xem xét là hành vi vi phạm kỷ luật tổ chức.
7.6. Xóa tên khỏi danh sách đảng viên và khai trừ khỏi Đảng khác nhau như thế nào?
Đây là hai chế định hoàn toàn khác nhau.
- Khai trừ là hình thức kỷ luật cao nhất đối với đảng viên chính thức khi có hành vi vi phạm đặc biệt nghiêm trọng.
- Xóa tên là biện pháp xử lý về tổ chức, áp dụng chủ yếu đối với trường hợp đảng viên không còn thực hiện nghĩa vụ như tự ý bỏ sinh hoạt Đảng, không đóng đảng phí hoặc từ bỏ vai trò đảng viên mà không thuộc trường hợp phải áp dụng hình thức khai trừ.
Việc phân biệt đúng hai biện pháp này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định căn cứ áp dụng, thẩm quyền quyết định và hậu quả pháp lý đối với từng trường hợp cụ thể.
Quý bạn đọc cũng có thể tham khảo thêm một số nội dung liên quan đến sinh hoạt đảng như: