Khách hàng: Kính thưa Luật sư Minh Khuê, Luật sư hãy cho tôi biết địa điểm, ngôn ngữ tố tụng và phân bổ chi phí giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế?
Cảm ơn!
Trả lời:
1. Địa điểm và ngôn ngữ tố tụng
Đối với ISDS theo phương thức tòa án, trọng tài của quốc gia, địa điểm xét xử ở quốc gia đó theo quy định của pháp luật tố tụng hoặc quy tắc trọng tài liên quan áp dụng cho vụ việc và ngôn ngữ xét xử là ngôn ngữ chính thức của quốc gia có tòa án, trọng tài (trừ trường hợp ISDS tại trọng tài của quốc gia nhưng các bên tranh chấp thỏa thuận chọn địa điểm, ngôn ngữ xét xử khác với địa điểm, ngôn ngữ của quốc gia có trọng tài và điều này là được phép theo quy tắc trọng tài áp dụng cho vụ việc tranh chấp).
2. Địa điểm và ngôn ngữ giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế theo phương thức ISDS
Liên quan đến ISDS theo phương thức trọng tài quốc tế, địa điểm xét xử và ngôn ngữ thường do các bên tranh chấp và hội đồng trọng tài thống nhất hoặc theo quy định của điều ước quốc tế về đầu tư.
Đây là vấn đề khá quan trọng đối với các bên tranh chấp, vì địa điểm trọng tài, ngôn ngữ xét xử sẽ là một trong những lợi thế nếu một bên tranh chấp biết tận dụng.
Ví dụ: Địa điểm thuận lợi, cư dân và chính quyền ở địa điểm có thiện cảm với mình; pháp luật quốc gia, vùng lãnh thổ đó tạo thuận lợi cho xét xử, thi hành quyết định trọng tài quốc tế.
3. Phân bổ chi phí trong vụ việc ISDS
Phân bổ chi phí trong vụ việc ISDS là việc quyết định các khoản chi phí pháp lý và xét xử mỗi bên phải gánh chịu.
Việc phân bổ này trở thành một phần của phán quyết về giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành. Trong trường hợp ISDS theo phương thức tòa án, trọng tài của quốc gia nhận đầu tư hoặc một quốc gia khác, việc phân bổ chi phí giải quyết tranh chấp do pháp luật tố tụng hoặc quy tắc trọng tài trong nước được áp dụng để giải quyết tranh chấp đó quy định.
Đối với ISDS tại trọng tài quốc tế, cách thức phân bổ chi phí giải quyết vụ việc tranh chấp tùy thuộc vào các quy tắc trọng tài được áp dụng cho vụ việc tranh chấp và do hội đồng trọng tài quyết định.
Ví dụ: Theo Điều 61 (2) Công ước ICSID, chi phí pháp lý và trọng tài được ấn định trong phán quyết cuốỉ cùng của hội đồng trọng tài về vụ việc, chi phí này cũng có thể được ứng trước một phần theo yêu cầu của hội đồng trọng tài.
Tuy nhiên, Công ước ICSID không có hướng dẫn cách phân bổ chi phí đối vối các bên tranh chấp. Ngược lại, Quy tắc trọng tài của UNCITRAL năm 2010 quy định tất cả các chi phí pháp lý, giải quyết tranh chấp, bao gồm cả chi phí của trọng tài, chi phí pháp lý hợp lý “về nguyên tắc sẽ do bên thua chịu” mặc dù các trọng tài có quyền quyết định khác.
4. Đầu tư quốc tế là gì?
Theo nghĩa thông thường, theo tác giả Nguyễn Lân, Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, Nxb. Thành phô' Hồ Chí Minh, 2000, tr. 594 , “đầu tư’ được hiểu là việc bỏ vốn, công sức nhằm mục đích sinh lời.
Theo Jeswald Salacuse: The Law of Investment Treaties, Oxford University Press, 2009, p.18, trong tiếng Latinh “investire” (đầu tư) có nghĩa là “cung cấp”, tức là nhà đầu tư cung cấp vốn cho doanh nghiệp thông qua hoạt động đầu tư.
Hay trong tiếng Anh, theo Longman Group Ltd.: Longman Dictionary of Contemporary English, Cayfosa, Barcelona, 1999, p.175 từ “investment” (đầu tư) có nghĩa là việc bỏ tiền của cá nhân, tổ chức vào một công ty, hoạt động kinh doanh hay ngân hàng để có được lợi nhuận hoặc để tiến hành thành công một hoạt động kinh doanh.
Theo trang web www.investopedia.com (Trang điện tử về giáo dục, tài chính và đầu tư) định nghĩa khoản đầu tư là một tài sản hoặc hàng hóa được mua với hy vọng nó sẽ tạo ra thu nhập hay đánh giá cao hơn trong tương lai. Theo nghĩa kinh tế, đầu tư là việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ được sử dụng trong tương lai để tạo ra của cải, không phải là tiêu thụ trong hiện tại. Trong tài chính, đầu tư là một tài sản tiền tệ mua với ý tưỏng rằng, các tài sản sẽ đem lại thu nhập trong tương lai hoặc đánh giá cao hơn và được bán với giá cao hơn.
Trong khoa học pháp lý có khá nhiều cách hiểu về đầu tư nước ngoài, tùy thuộc vào khía cạnh nhìn nhận khác nhau của quá trình này và chúng được thể hiện ở cả pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia.
Theo nội luật của nhiều quốc gia, khái niệm đầu tư nước ngoài hoặc được định nghĩa rõ ràng hoặc gộp với định nghĩa về đầu tư nói chung (bao gồm cả đầu tư trong nước và đầu tư nựớc ngoài).
Ví dụ, theo Luật Đầu tư của năm 2007 (Inđônêxia) quy định, “đầu tư nước ngoài” là hoạt động đầu tư để kinh doanh trên lãnh thổ của nước Cộng hòa Inđônêxia được thực hiện bởi một nhà đầu tư nước ngoài cả bằng hình thức 100% vốn nước ngoài và tham gia vào hên doanh với nhà đầu tư trong nước.
Tuy nhiên, Luật Đầu tư năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2015 theo Luật Khí tượng thủy văn; năm 2016 theo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có đỉều kiện của Luật Đầu tư; năm 2017 theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; năm 2018 theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 Luật có hên quan đến quy hoạch; năm 2019 theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật sở hữu trí tuệ thì không có định nghĩa riêng về đầu tư nưổc ngoài mà gộp chung vào định nghĩa “đầu tư kinh doanh”.
Ở góc độ pháp luật quốc tế, hầu hết các điều ước quốc tế định nghĩa đầu tư bằng cách liệt kê các tài sản, quyền tài sản được nhà đầu tư nước ngoài đưa (chuyển) vào quốc gia sở tại để thực hiện quá trình đầu tư sinh lời của mình thì được gọi là các khoản đầu tư. Pháp luật đầu tư một số quốc gia cũng định nghĩa theo cách này.
Ví dụ, Luật Đầu tư năm 2016 (Mianma) quy định, tại Mục 40 liệt kê các tài sản, quyền tài sản được coi là khoản đầu tư và theo Mục 2 của Luật này thì đầu tư nước ngoài là việc đầu tư trực tiếp tại Mianma đôì với các khoản đầu tư nêu tại Mục 40 nói trên do những cá nhân, tổ chức không có quốc tịch Mianma thực hiện.
Tại Điều 18 Luật Đầu tư nước ngoài năm 2014 (Cuba) cũng quy định các loại tài sản, quyền tài sản được coi là khoản đầu tư nước ngoài trên lãnh thổ Cuba. Một số hiệp định gần đây không chỉ xác định đầu tư dựa trên cơ sở các loại tài sản mà còn nêu ra những đặc điểm chung của đầu tư như cam kết về vốn, kỳ vọng về thu nhập hay lợi nhuận hoặc có rủi ro. Ví dụ: Hiệp định đầu tư và toàn diện trong ASEAN (xem chú thích số 2 của điểm c Điều 4). Loại tài sản nào không có những đặc điểm như vậy thì không được coi là đầu tư. Yếu tố nước ngoài được xác định theo quốc tịch của chủ thể tiến hành đầu tư kinh doanh.
Tuy vậy, dù có hay không có định nghĩa cụ thể về đầu tư nước ngoài trong pháp luật, dường như các quốc gia đều quan niệm giống nhau về đầu tư nước ngoài, theo đó là việc bỏ vốn của cá nhân, tổ chức để thực hiện các hoạt động đầu tư, kinh doanh hợp pháp tại quốc gia mà họ không mang quốc tịch hoặc không phải là người thường trú.
5. Tranh chấp đầu tư quốc tế là gì?
Một trong những mặt trái ảnh hưởng trực tiếp nhất đến quốc gia nhận đầu tư là tranh chấp đầu tư quốc tế. Đây là vấn đề tất yếu phát sinh từ đầu tư nước ngoài mà các quốc gia nhận đầu tư chỉ có thể hạn chế mà khó có thể tránh hoàn toàn.
Trước hết, thuật ngữ “tranh chấp” nói chung được hiểu là sự bất đồng, mâu thuẫn về quyển lợi và nghĩa vụ phát sinh giữa các bên liên quan.
Đối với tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài cũng được hiểu như vậy. Tuy nhiên, cần phân biệt giữa tranh chấp đầu tư quốc tế với tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước.
Cách hiểu về nội hàm của hai cụm từ này khác nhau trong pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc gia. Một số nghiên cứu pháp luật quốc tế hoặc điều ước quốc tế chuyên biệt về giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế (điển hình là Công ước năm 1965 về giải quyết tranh chấp đầu tư giữa các quốc gia vối công dân của các quốc gia khác - Công ước ICSID) và đạo luật của quốc gia.
- Cơ sở pháp lý: Theo Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg ngày 14/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế phối hợp trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế
Trong phán quyết năm 1924 về vụ tranh chấp Mavrommatis, Toà án Thường trực Công lý quốc tế (tiền thân của Toà án Công lý quốc tế) đã định nghĩa tranh chấp như sau:“tranh chấp là sự bất đồng về mặt pháp lý hay trên thực tế, sự xung đột về mặt quan điểm pháp lý hoặc lợi ích giữa hai hay nhiều người trở lên”. Trong một phán quyết khác của Toà án Công lý quốc tế, “tranh chấp được hiểu là một tình huống trong đó hai bên có các quan điểm đối lập liên quan tới câu hỏi về thực hiện hoặc không thực hiện một nghĩa vụ nào đó trong hiệp ước”.
Theo Khoản 1 Điều 2 Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg ngày 14/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế phối hợp trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, theo Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg đã nêu rõ:
“Tranh chấp đầu tư quốc tế theo Quy chế này là tranh chấp phát sinh từ việc Nhà đầu tư nước ngoài kiện Chính phủ, Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi chung là Chính phủ Việt Nam) hoặc cơ quan nhà nước, tổ chức được cơ quan nhà nước ủy quyền quản lý nhà nước (sau đây gọi chung là cơ quan nhà nước) dựa trên cơ sở:
- Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư hoặc hiệp định thương mại hoặc điều ước quốc tế khác có quy định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư mà Việt Nam là thành viên (sau đây gọi chung là hiệp định bảo hộ đầu tư), trong đó có quy định về việc giải quyết tranh chấp giữa Nhà đầu tư nưốc ngoài và Chính phủ Việt Nam tại trọng tài quốc tế hay cơ quan tài phán nước ngoài có thẩm quyền; hoặc
- Hợp đồng, thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam hoặc cơ quan nhà nưốc Việt Nam và Nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có quy định cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng, thỏa thuận này là trọng tài quốc tế hoặc cơ quan tài phán nước ngoài có thẩm quyền”.
Sở dĩ có tên, cách hiểu khác nhau như vậy là do tranh chấp đầu tư quốc tế được nhìn nhận theo nghĩa rộng hoặc hẹp.
- Ở nghĩa rộng, tranh chấp đầu tư quốc tế tương đối đa dạng, bao gồm những tranh chấp giữa các chủ thể liên quan (nhà nước, cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân) phát sinh trực tiếp từ việc thiết lập, thực hiện, quản lý đầu tư xuyên biên giới quốc gia;
- Ở nghĩa hẹp, tranh chấp đầu tư quốc tế được hiểu là tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước. Tuy nhiên, theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp thì tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước vẫn được hiểu là tranh chấp liên quan hoạt động đầu tư giữa nhà nước nhận đầu tư với nhà đầu tư là cá nhân, pháp nhân đến từ quốc gia khác (nhà đầu tư nước ngoài) phát sinh trên cơ sở điều ước quốc tế, thỏa thuận/hợp đồng đầu tư quốc tế hoặc pháp luật của quốc gia nhận đầu tư. Trong cuốn sách này tranh chấp đầu tư quốc tế được giới hạn ở tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà nước và việc giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế là giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà nước (Investor - State Dispute Settlement - ISDS).
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).