1. Khái niệm chứng cứ trong các BLTTHS trước đây

Trong các Bộ luật tố tụng hình sự trước đây (Điều 48 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003) có tên gọi là: Chứng cứ và được hiểu như là khái niệm chứng cứ. Trong khi khoản 1 của các điều luật này quy định: Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án thì khoản 2 lại nêu Chứng cứ được xác định bằng: Vật chứng; lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; kết luận giám định; biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác. Vậy khoản 2 này có phải là khái niệm chứng cứ không.

Mặt khác, khi nêu khái niệm chứng cứ, các điều luật này đã không nêu rõ những trường hợp không được thừa nhận là chứng cứ. Thêm vào đó, quyền thu thập chứng cứ chỉ được trao cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án mà những người tham gia tố tụng khác, kể cả người bào chữa, cũng không có quyền thu thập chứng cứ. Điều quan trọng hơn, các điều luật này không công nhận là chứng cứ đối với lời trình bày của người tố giác, báo tin về tội phạm; đối với kết luận định giá tài sản trong các vụ án hình sự có liên quan đến đối tượng của tội phạm; đối với kết quả ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khi mà tình hình tội phạm xuyên quốc gia đang có xu hướng tăng lên cần phải có sự hợp tác giữa các cơ quan có thẩm quyền tố tụng ở những quốc gia khác nhau...; không quy định các tài liệu có trong các dữ liệu điện tử đang lưu giữ trong các phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông và các nguồn điện tử khác..., khi mà tình hình tội phạm hiện nay đang có xu hướng sử dụng các dữ liệu điện tử như là phương tiện thực hiện tội phạm.

2. Khái niệm chứng cứ trong BLTTHS 2015

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã khắc phục những tồn tại, vướng mắc này bằng việc bổ sung các quy định rất cụ thể, rõ ràng, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tố tụng hình sự thu thập và sử dụng chứng cứ chứng minh theo những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự. Cụ thể: Điều 86 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án” và Điều 87 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định nguồn chứng cứ: Chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn: vật chứng; lời khai, lời trình bày; dữ liệu điện tử; kết luận giám định, định giá tài sản; biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố xét xử, thi hành án; kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác; các tài liệu, đồ vật khác. Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự. Quy định như vậy vừa rõ ràng, đầy đủ, tránh được những trường hợp các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đưa cả những tài liệu không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định làm chứng cứ vụ án như các tài liệu thu thập được bằng các biện pháp trinh sát, bí mật; các báo cáo kết quả phiên họp liên ngành của các cơ quan tư pháp... làm chứng cứ và đã từng xảy ra trong thực tế giải quyết vụ án hình sự.

3. Nguồn chứng cứ

Nguồn chứng cứ quan trọng nhất của vụ án hình sự là vật chứng. Đây được coi là chứng cứ gốc, chứng cứ trực tiếp để chứng minh có tội phạm xảy ra hay không, một người có phải là người phạm tội. Trong các Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, năm 2003 và năm 2015 quy định: Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án. Điểm cơ bản bổ sung trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (Điều 90) là quy định về bảo quản vật chứng liên quan đến vật chứng là tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ lưu dấu vết của tội phạm thì tiến hành niêm phong theo quy định; vật chứng là vi khuẩn nguy hại, bộ phận cơ thể người, mẫu mô, mẫu máu và các mẫu vật khác của cơ thể người được bảo quản tại cơ quan chuyên trách theo quy định pháp luật. Việc xử lý vật chứng (Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015) cũng được quy định một cách cụ thể về việc cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải trả lại ngay những tài sản đã thu giữ, tạm giữ nhưng không phải là vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp các tài sản đó. Đối với vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể được bán theo quy định của pháp luật; trường hợp không bán được thì tiêu hủy. Vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai thì ngay sau khi có kết luận giám định phải giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.

4. Nguồn chứng cứ là lợi khai

Đối với nguồn chứng cứ là lời khai, như quy định tại các Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và năm 2003, bao gồm: lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 không có sự sửa đổi nhiều, chỉ bổ sung thêm lời khai của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người tố giác, báo tin về tội phạm, người phạm tội tự thú, đầu thú, người chứng kiến với nội dung, hoặc là trình bày những tình tiết liên quan đến việc họ bị nghi thực hiện tội phạm, hoặc là trình bày những tình tiết liên quan đến việc họ tố giác, báo tin về tội phạm, hoặc là trình bày về những tình tiết mà họ đã chứng kiến trong hoạt động tố tụng, tùy thuộc vào địa vị pháp lý của họ trong tố tụng hình sự.

5. Nguồn chứng cứ là kết luận giám định

Đối với nguồn chứng cứ là kết luận giám định, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bổ sung khái niệm kết luận giám định nhằm phân biệt với những văn bản không phải kết luận giám định nhưng vẫn được coi là kết luận giám định dùng để chứng minh như đã từng xảy ra trong một số vụ án hình sự.

Khoản 1 Điều 100 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có quy định: “Kết luận giám định là văn bản do cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức giám định lập để kết luận chuyên môn về những vấn đề được trưng cầu, yêu cầu giám định”. Đồng thời, điều luật này cũng quy định rõ: “Kết luận giám định của người được trưng cầu giám định thuộc trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án” (Khoản 4 Điều 100). Những trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi được quy định tại Luật giám định tư pháp năm 2012. Ví dụ Điều 11 Luật này quy định: Từ chối giám định trong trường hợp nội dung cần giám định vượt quá khả năng chuyên môn; đối tượng giám định, các tài liệu liên quan được cung cấp không đủ hoặc không có giá trị để kết luận giám định; thời gian không đủ để thực hiện giám định hoặc có lý do chính đáng khác.

6. Nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử

Điểm nổi bật quy định về các nguồn chứng cứ trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 là bổ sung thêm những nguồn chứng cứ mới bao gồm: Dữ liệu điện tử; kết luận định giá tài sản; kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế hiện nay phải có các nguồn chứng cứ này. Trong các loại nguồn chứng cứ thì dữ liệu điện tử được coi là khó hiểu nhất khi thu thập và đánh giá chứng cứ, mặc dù bổ sung dữ liệu điện tử là một trong những nguồn chứng cứ là phù hợp với tiến trình phát triển của khoa học - công nghệ hiện nay và đáp ứng được yêu cầu giải quyết vụ án nói chung và tội phạm trong lĩnh vực công nghệ nói riêng. Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Dữ liệu điện tử là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử.

Dữ liệu điện tử được thu thập từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác.

Giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác”. Như vậy, dữ liệu điện tử được thu thập từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác, nhưng khi thu thập những dữ liệu điện tử này phải được thể hiện bằng cách các tài liệu này hoặc là có thể đọc được, nghe được hoặc nhìn được. Để có giá trị là chứng cứ trong vụ án hình sự, Điều 196 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về trình tự thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử: “Việc thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện và có thể mời người có chuyên môn liên quan tham gia. Trường hợp không thể thu giữ được thì phải sao lưu vào phương tiện lưu trữ và thu giữ như đối với vật chứng.

Khi thu giữ các phương tiện điện tử có thể thu thiết bị ngoại vi kèm theo và các tài liệu có liên quan”. Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra cho những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải có những kiến thức nhất định về dữ liệu điện tử mới có thể đánh giá được những chứng cứ thu được tại nguồn chứng cứ này.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)