1. Khái niệm chứng cứ
Điều 86 BLTTHS năm 2015 quy định: “Chứng cứ là những gì có thật được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”. Như vậy, có thể thấy rằng, chứng cứ bao gồm các thuộc tính: tính khách quan (có thật), hợp pháp và liên quan, đó là những nội hàm chính trong khái niệm chứng cứ, giống như quy định trước đây tại BLTTDS năm 2003.
Tuy nhiên trong khái niệm chứng cứ có nội dung mới quan trọng, có ý nghĩa rất lớn trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự, đó chính là “chủ thể” sử dụng chứng cứ. Tại Điều 64 BLTTHS 2003 quy định rõ chủ thể sử dụng chứng cứ là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án (các cơ quan tiến hành tố tụng), như vậy BLTTHS 2015 đã không quy định “chủ thể” sử dụng chứng cứ trong khái niệm về chứng cứ, đó chính là quy định “mở”, tiến bộ trong tố tụng hình sự, tạo điều kiện cho những người tham gia tố tụng, đặc biệt là người bị buộc tội, người bào chữa, bị hại… có thể tham gia vào quá trình chứng minh, giải quyết vụ án hình sự.
Điều này được quy định rõ hơn trong việc quy định quyền và nghĩa vụ của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố; người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt; người bị tạm giữ; bị can; bị cáo; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người bào chữa đều có quyền “Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá”. Đồng thời bổ sung thêm quyền và nghĩa vụ cho người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, đương sự có quyền “kiểm tra, đánh giá chứng cứ”.
2. Nguồn chứng cứ
Nguồn chứng cứ là những sự vật chứa đựng chứng cứ, tức chứa đựng các thông tin, tư liệu tồn tại trong thực tế khách quan, liên quan đến vụ án và được thu thập theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Điều 87 BLTTHS 2015 về nguồn chứng cứ so với khoản 2 Điều 64 BLTTHS 2003 có một số thay đổi, bổ sung.
Điều 87 BLTTHS 2015 quy định:
1. Chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn:
a) Vật chứng;
b) Lời khai, lời trình bày;
c) Dữ liệu điện tử;
d) Kết luận giám định, định giá tài sản;
đ) Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;
e) Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác;
g) Các tài liệu, đồ vật khác.
2. Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự.
Như vậy so với BLTTHS 2003 thì BLTTHS 2015 ngoài việc quy định cụ thể, rõ ràng hơn một số nguồn chứng cứ như: lời trình bày, biên bản trong hoạt động khởi tố, thi hành án, đã bổ sung thêm các nguồn chứng cứ là: Dữ liệu điện tử; định giá tài sản; kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế. Đồng thời Khoản 2 điều này đòi hỏi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải kiểm tra đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu thập được về vụ án.
3. Nguồn chứng cứ là lời khai, lời trình bày
Lời khai trong vụ án hình sự có thể nói cũng là một nguồn chứng cứ rất quan trọng. Cơ quan điều tra sử dụng hoạt động nghiệp vụ của mình để có được những lời khai, còn Hội đồng xét xử có vai trò thẩm định lại những lời khai đó một lần nữa tại phiên tòa. Trên cơ sở này, lời khai mang các ý nghĩa, giá trị khác nhau như: lời khai của bị can, bị cáo thể hiện thái độ thừa nhận hay phủ nhận hành vi phạm tội, lời khai của người làm chứng thể hiện sự hiểu biết của họ đối với những tình tiết liên quan của vụ án… Sự hình thành lời khai là một quá trình vô cùng phức tạp, nó bị chi phối bởi nhiều yếu tố khách quan lẫn chủ quan khác nhau.
Nguồn chứng cứ là lời khai, lời trình bày có sự khác biệt so với vật chứng. Theo đó, nếu vật chứng là một vật cụ thể được xác định, mang tính vật chất và nó phản ánh khách quan về vụ án thì lời khai của các đối tượng trên lại được hình thành từ tư duy, ý thức của con người. Chính vì vậy, tính khách quan của lời khai không được đảm bảo như vật chứng, đặc biệt là trong trường hợp người khai báo lại có mối liên quan ít hay nhiều đến vụ án. Tùy từng đối tượng tham gia với tư cách nào trong vụ án như: bị can, bị cáo, người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự… và mối quan hệ của họ với nhau mà mỗi lời khai lại có những ảnh hưởng của đặc điểm tâm lý khác nhau.
Lời khai của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan đến vụ án, người tố giác tin báo về tội phạm, người chứng kiến được xem xét là nguồn chứng cứ.
4. Lời khai của người làm chứng theo pháp luật của một số nước
Lời khai của người làm chứng là sự trình bày bằng miệng của người làm chứng về những tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án hình sự, về đặc điểm nhân thân của người bị buộc tội, người bị hại, quan hệ giữa họ với người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng khác, được thực hiện trước các cơ quan tiến hành tố tụng, theo thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định.
Lời khai của người làm chứng là một trong những nguồn chứng cứ lâu đời và phổ biến nhất. Luật tố tụng hình sự của nhiều nước trên thế giới đều quy định về nguồn chứng cứ này, bởi lẽ người làm chứng nắm được diễn biến của vụ án hình sự, hoàn cảnh phạm tội, nhân thân người phạm tội, người bị hại... Đây là nguồn chứng cứ rất quan trọng góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án hình sự.
Nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới như Liên bang Nga, Vương quốc Thái Lan... cho thấy, Bộ luật Tố tụng hình sự của các nước này, đều quy định về trình tự, thủ tục lấy lời khai của người làm chứng.
Trong Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Nga, địa điểm và thời gian hỏi cung người làm chứng được quy định tại Điều 187, thủ tục triệu tập người làm chứng để hỏi cung được quy định tại Điều 188, những quy định chung khi tiến hành hỏi cung được quy định tại Điều 189. Điều 189 quy định: "Trước khi hỏi cung, dự thẩm viên thực hiện những yêu cầu được quy định tại khoản 4 Điều 164 Bộ luật này. Nếu dự thẩm viên nghi ngờ về việc người bị hỏi cung không sử dụng thành thạo ngôn ngữ được dùng trong tố tụng, thì dự thẩm viên giải thích cho người được hỏi cung trình bày nguyện vọng được khai báo bằng ngôn ngữ nào. Nghiêm cấm đưa ra các câu hỏi có tính chất mớm cung. dự thẩm viên được tự do lựa chọn chiến thuật hỏi cung”.
Bộ luật Tố tụng hình sự Vương quốc Thái Lan quy định về trình tự, thủ tục hỏi cung người làm chứng, người bị hại và những người khác tại Điều 133: “Trong quá trình thẩm tra, điều tra viên có thể yêu cầu người đó tuyên thệ hoặc khẳng định sự trung thực của lời khai trước khi khai báo, đồng thời điều tra viên phải tuân theo mọi quy định về chứng cứ, lời khai của Bộ luật này... Không điều tra viên nào được phép gợi ý, khuyến khích hay dùng nhục hình để ngăn cản người bị lấy lời khai khai báo theo nguyện vọng của họ".
Bộ luật TTố tụng hình sự Hàn Quốc quy định về lời thề của người làm chứng tại Điều 156 và Điều 157. Điều 156 quy định: "Một nhân chứng sẽ bắt buộc phải thề trước khi bị thẩm vấn, trừ khi Luật quy định khác". Điều 157 Bộ luật quy định mẫu lời thề tuyên thệ: "Văn bản tuyên thệ sẽ ghi "Tôi thề rằng tôi sẽ nói sự thật, toàn bộ sự thật và không phải là cái gì khác ngoài sự thật mà tôi được biết, nếu có điều gì sai trái trong lời nói của tội, tôi sẽ bị xử phạt".
Bộ luật Tố tụng hình sự Cộng hòa Pháp, ngoài việc quy định người làm chứng phải tuyên thệ và khai tại Điều 437, Điều 438 còn quy định cụ thể về trách nhiệm của người làm chứng: "Nếu người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa hoặc không chịu tuyên thê, không chịu khai, thì Viện Công tố có thể yêu cầu Tòa tiểu hình xử phạt người này theo quy định tại Điều 109".
5. Lấy lời khai của người làm chứng theo pháp luật Việt Nam
Điều 186 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định:
- Việc lấy lời khai người làm chứng được tiến hành tại nơi tiến hành điều tra, nơi cư trú, nơi làm việc hoặc nơi học tập của người đó.
- Nếu vụ án có nhiều người làm chứng thì phải lấy lời khai riêng từng người và không để cho họ tiếp xúc, trao đổi với nhau trong thời gian lấy lời khai.
- Trước khi lấy lời khai, Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải giải thích cho người làm chứng biết quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định tại Điều của Bộ luật TTHS 2015. Việc này phải ghi vào biên bản.
- Trước khi hỏi về nội dung vụ án, Điều tra viên phải hỏi về mối quan hệ giữa người làm chứng với bị can, bị hại và những tình tiết khác về nhân thân của người làm chứng. Điều tra viên yêu cầu người làm chứng trình bày hoặc tự viết một cách trung thực và tự nguyện những gì họ biết về vụ án, sau đó mới đặt câu hỏi.
- Trường hợp xét thấy việc lấy lời khai của Điều tra viên không khách quan hoặc có vi phạm pháp luật hoặc xét cần làm rõ chứng cứ, tài liệu để quyết định việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra hoặc để quyết định việc truy tố thì Kiểm sát viên có thể lấy lời khai người làm chứng. Việc lấy lời khai người làm chứng được tiến hành theo quy định tại Điều này.
Biên bản ghi lời khai của người làm chứng được lập theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật TTHS 2015. Việc lấy lời khai của người làm chứng có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)